Bộ Nội vụ vừa ban hành công văn số 4884/BNV-VP gửi Sở Nội vụ tỉnh Lâm Đồng nhằm giải đáp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện một số nghị định của Chính phủ. Công văn này được đưa ra sau khi Bộ Nội vụ tiếp nhận đề nghị từ Sở Nội vụ tỉnh Lâm Đồng tại Công văn số 2223/SNV-CCVC ngày 28/4/2026.
Quy định về vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn
Theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn được quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 1 của Nghị định này, vùng đặc biệt khó khăn bao gồm các xã khu vực III thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, cùng với các xã đảo đặc biệt khó khăn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Để xác định danh sách các thôn, xã thuộc vùng này, Nghị định số 272/2025/NĐ-CP ngày 16/10/2025 đã giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh (điểm b khoản 2 Điều 13). Đồng thời, Bộ Dân tộc và Tôn giáo có trách nhiệm tổng hợp và ban hành quyết định công bố danh sách thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực I, II, III trên phạm vi cả nước (điểm c khoản 1 Điều 13).
Thực hiện quy định này, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã ban hành Quyết định số 60/QĐ-BDTTG ngày 29/1/2026 công bố danh sách các thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực I, II, III giai đoạn 2026-2030. Tiếp đó, Quyết định số 104/QĐ-BDTTG ngày 27/2/2026 công bố danh sách bổ sung đợt 2 cho giai đoạn này.
Đối tượng áp dụng và chế độ trợ cấp
Về đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP, Bộ Nội vụ cho biết đối tượng này là người làm việc theo các nghị định: Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000, Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 và các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan.
Đối với trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, Điều 6 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP quy định chế độ này áp dụng cho các đối tượng nêu tại Điều 2 khi lần đầu tiên nhận công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc vùng đặc biệt khó khăn.
Về phụ cấp công tác lâu năm, Điều 5 của Nghị định số 76/2019/NĐ-CP quy định mức phụ cấp dựa trên thời gian thực tế làm việc tại vùng đặc biệt khó khăn. Thời gian thực tế làm việc được xác định theo Điều 13 của Nghị định này, làm căn cứ để tính hưởng các chế độ phụ cấp và trợ cấp.
Giải quyết chế độ theo Nghị định 154 và các văn bản mới
Liên quan đến việc giải quyết chế độ, chính sách theo Nghị định số 154/2025/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 154), Bộ Nội vụ làm rõ: Theo Nghị định 154 (có hiệu lực từ ngày 15/6/2025), cán bộ, công chức có 1 năm xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ thuộc đối tượng tinh giản biên chế.
Tuy nhiên, Luật Cán bộ, công chức năm 2025 (khoản 1 Điều 32) và Nghị định số 170/2025/NĐ-CP (khoản 3 Điều 57, có hiệu lực từ 1/7/2025) quy định công chức bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ thuộc đối tượng giải quyết thôi việc và hưởng chế độ theo Điều 58 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP.
Căn cứ khoản 3 và 4 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, khi có sự khác nhau giữa các văn bản về cùng một vấn đề, văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ được áp dụng. Nếu các văn bản do cùng một cơ quan ban hành, văn bản ban hành sau sẽ được ưu tiên.
Do đó, trường hợp công chức bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ sẽ áp dụng chính sách theo Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và Nghị định số 170/2025/NĐ-CP, không thuộc diện tinh giản biên chế theo Nghị định số 154/2025/NĐ-CP.



