Hoàn thiện chính sách cho đội ngũ phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
Trong phiên thảo luận tại Quốc hội, các đại biểu đã tập trung vào việc hoàn thiện dự thảo Nghị quyết về phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế. Các ý kiến nhấn mạnh rằng, khi được ban hành, Nghị quyết sẽ tạo ra một hành lang pháp lý thống nhất và đồng bộ, giúp chủ động cảnh báo sớm các nguy cơ tranh chấp, đồng thời mở rộng phạm vi hỗ trợ sang bên thứ ba để đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Đề xuất cụ thể hóa chế độ đãi ngộ và cơ chế phối hợp
Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hạnh (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh) đã đề cập đến quy định về chế độ, chính sách cho người làm công tác phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế tại Điều 18 của dự thảo. Bà khẳng định đây là việc làm cần thiết, thể hiện sự quan tâm đối với đội ngũ có công việc phức tạp và đòi hỏi chuyên môn cao. Tuy nhiên, bà đề nghị làm rõ thêm một số nội dung, như trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được xác định là cơ quan chủ trì theo Điều 12, thì cơ quan này sẽ giao nhiệm vụ cho đơn vị đã tham mưu vụ việc bị kiện.
Về chế độ chính sách, theo khoản 3 Điều 18, người không có vị trí việc làm chuyên trách nhưng được giao chủ trì giải quyết tranh chấp hoặc tham gia Tổ công tác liên ngành sẽ được hưởng phụ cấp tăng thêm hàng tháng bằng 100% mức lương hiện hưởng trong thời gian trực tiếp tham gia. Tuy nhiên, đại biểu Hồng Hạnh chỉ ra rằng, từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh, các vụ tranh chấp thường kéo dài 4-5 năm, và công chức không chuyên trách không thể dành toàn thời gian cho vụ việc, nhất là khi đã thuê tư vấn luật. Do đó, bà đề xuất cân nhắc quy định hợp lý hơn, có thể theo hướng khoán việc, như Nghị quyết 197 về kinh phí xây dựng pháp luật, hoặc giao cho Hội đồng nhân dân địa phương quy định chi tiết.
Quan tâm đến cơ chế đặc thù về thu nhập
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà (Đoàn Quảng Ninh) phát biểu về cơ chế đặc thù cho người làm công tác phòng ngừa, giải quyết tranh chấp. Bà cho rằng, việc quy định chế độ đãi ngộ trong dự thảo chưa hợp lý, vì công chức thuộc cơ quan đại diện pháp lý (Bộ Tư pháp) làm công tác tư vấn được hưởng phụ cấp 300%, trong khi cơ quan chủ trì giải quyết vụ kiện, thành viên Tổ công tác liên ngành lại không được áp dụng. Bà đề xuất áp dụng mức hỗ trợ 100% như Nghị quyết 197 để đảm bảo công bằng và phù hợp.
Bổ sung quy định nâng cao hiệu quả phòng ngừa
Các đại biểu thống nhất cao về sự cần thiết ban hành Nghị quyết, coi đây là bước hoàn thiện quan trọng trong khuôn khổ pháp lý của Việt Nam, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia và củng cố môi trường đầu tư minh bạch, ổn định. Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Lâm Đồng) đề xuất cụ thể hóa cơ chế phối hợp tại Điều 6, xác định rõ cơ quan đầu mối chủ trì, với vai trò trung tâm điều phối có thể giao cho Bộ Tư pháp. Ông cũng đề nghị bổ sung quy định về thời hạn xử lý phản ánh của nhà đầu tư và xây dựng cơ chế phản hồi minh bạch, có tính ràng buộc trách nhiệm.
Về trách nhiệm tham mưu xây dựng chính sách và thu hút đầu tư (Điều 7), đại biểu cho rằng dự thảo chưa xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm chính, cần làm rõ vai trò của các bộ, ngành, đặc biệt là cơ quan quản lý chuyên ngành và Bộ Tài chính. Đối với Điều 12 về xác định cơ quan chủ trì giải quyết tranh chấp, ông đề xuất bổ sung các tiêu chí cụ thể theo thứ tự ưu tiên, và chỉ báo cáo Thủ tướng Chính phủ khi không thể xác định theo các tiêu chí này.
Mở rộng phạm vi và hoàn thiện kỹ thuật
Đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn Đồng Ninh) đề xuất mở rộng phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết, bao gồm hỗ trợ cho bên thứ ba, như các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài bị lôi kéo vào vụ kiện. Ông cũng nhấn mạnh cần có cơ chế sau giải quyết tranh chấp, đặc biệt khi phán quyết không có lợi, liên quan đến tài sản và trách nhiệm. Về kỹ thuật, ông đề nghị Quốc hội chỉ quy định nguyên tắc chung, còn các nội dung cụ thể như trình tự, thủ tục nên giao Chính phủ quy định để đảm bảo tính linh hoạt.
Phát biểu giải trình, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng tiếp thu các ý kiến tâm huyết của đại biểu và cho biết cơ quan soạn thảo sẽ nghiên cứu, hoàn thiện dự thảo dựa trên thảo luận tại hội trường, đảm bảo phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế. Ông nhấn mạnh, việc xây dựng cơ chế phối hợp nhằm chuyển đổi từ tư duy phòng thủ sang chủ động phòng ngừa và xử lý hiệu quả tranh chấp, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.



