Tòa án Nhân dân Tối cao vừa ban hành thông báo giải đáp trực tuyến về các vướng mắc trong công tác xét xử, trong đó có tình huống liên quan đến hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
Phải chứng minh nồng độ cồn do uống rượu, bia
Theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, người tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông gây thiệt hại nghiêm trọng, trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở vượt quá mức quy định, hoặc có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác, thì bị phạt tù từ 3 đến 10 năm.
Tình huống đặt ra: bị cáo thực hiện hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện, nhưng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều khai trước khi tham gia giao thông không uống rượu, bia. Kết quả giám định xác định nồng độ cồn trong máu là 0,282 mg/100 ml, nhưng không xác định nguyên nhân gây ra nồng độ cồn. Câu hỏi đặt ra là có áp dụng tình tiết “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia” hay không?
TAND tối cao cho biết, người phạm tội chỉ bị áp dụng tình tiết này khi họ ở trong tình trạng có sử dụng rượu, bia. Do đó, kết luận giám định phải xác định rõ nồng độ cồn trong máu là do sử dụng rượu, bia, hoặc phải có căn cứ khác chứng minh người phạm tội đã sử dụng rượu, bia. “Trường hợp không có căn cứ xác định người phạm tội đã sử dụng rượu, bia, thì không áp dụng tình tiết này”, TAND tối cao nêu rõ.
Áp dụng pháp luật thống nhất khi xét xử
Luật sư Nguyễn Ngọc Hùng, Đoàn luật sư TP. Hà Nội, hoan nghênh hướng dẫn của TAND tối cao, giúp việc áp dụng pháp luật khi xét xử thống nhất và chính xác. Theo luật sư, Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, khi muốn áp dụng tình tiết tại điểm b khoản 2 Điều 260, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh tài xế gây tai nạn “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia”.
Trên thực tế, ngoài việc sử dụng rượu, bia, có thể có nguyên nhân khác dẫn đến nồng độ cồn trong máu, chẳng hạn như sử dụng thực phẩm lên men hoặc thuốc (còn gọi là “nồng độ cồn sinh học”). Nếu rơi vào trường hợp này, sẽ không thể áp dụng tình tiết trên. Do đó, trong quá trình điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ ra quyết định trưng cầu giám định để xác định nồng độ cồn trong máu. Nếu có nồng độ cồn, kết luận giám định phải nêu rõ nguyên nhân để có căn cứ xử lý. “Đây là chứng cứ rất quan trọng để xác định tình tiết định khung với người phạm tội”, luật sư nói.
Trong trường hợp kết quả giám định xác định có nồng độ cồn nhưng không nêu rõ nguyên nhân, trong khi người phạm tội phủ nhận việc uống rượu, bia, liệu có cách nào chứng minh? Luật sư Hùng cho rằng vẫn có thể nếu có thêm các chứng cứ khác như lời khai của người liên quan, hình ảnh, video… về việc tài xế đã uống rượu, bia trước khi gây tai nạn. “Các chứng cứ này phải đảm bảo tính hợp pháp, khách quan và liên quan. Trường hợp không thể chứng minh mối liên hệ giữa nồng độ cồn trong máu với việc sử dụng rượu, bia, thì không thể áp dụng tình tiết tại điểm b khoản 2 Điều 260”, luật sư nêu quan điểm.



