Hình thành 50 nhóm nghiên cứu mạnh về khoa học tự nhiên đến 2035
Hình thành 50 nhóm nghiên cứu mạnh khoa học tự nhiên 2035

Phê duyệt chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc

Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026-2035 vừa được phê duyệt, với mục tiêu tổng quát phát triển nghiên cứu cơ bản xuất sắc thành cấu phần cốt lõi của hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Chương trình nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu đạt trình độ quốc tế, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh mang tầm quốc tế và kiến tạo môi trường nghiên cứu tiên tiến, góp phần nâng cao vị thế khoa học của Việt Nam và tạo nền tảng tri thức cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược trong dài hạn.

Mục tiêu cụ thể về nhóm nghiên cứu

Chương trình đặt mục tiêu hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, có năng lực dẫn dắt các hướng nghiên cứu tiên tiến và tạo ra các kết quả khoa học có ảnh hưởng quốc tế. Điều này sẽ nâng cao chất lượng và mức độ ảnh hưởng khoa học của nghiên cứu cơ bản Việt Nam, từng bước nâng cao vị thế khoa học trong một số lĩnh vực trọng điểm.

Cụ thể, đến năm 2030, chương trình phấn đấu hình thành khoảng 30 nhóm nghiên cứu mạnh, trong đó có ít nhất 3 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực. Đến năm 2035, con số này tăng lên khoảng 50 nhóm, với ít nhất 10 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực và có ảnh hưởng học thuật quốc tế rõ nét.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Tăng cường công bố khoa học và hướng nghiên cứu mới

Tỉ lệ công bố khoa học trên các tạp chí thuộc nhóm Q1 trong cơ sở dữ liệu Web of Science và hệ thống Nature Index dự kiến tăng khoảng 1,5 lần vào năm 2030 và nâng lên khoảng 2 lần vào năm 2035 so với mức trung bình giai đoạn 2021-2025 của từng lĩnh vực khoa học tương ứng.

Bên cạnh đó, chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất một hướng nghiên cứu tiệm cận nhóm 5% thế giới về mức độ ảnh hưởng khoa học theo các chỉ số trích dẫn chuẩn hóa theo lĩnh vực; đến năm 2035 có ít nhất 3 hướng nghiên cứu tiệm cận nhóm này.

Đến năm 2030, chương trình sẽ hình thành ít nhất 10 hướng nghiên cứu mới, trong đó tối thiểu 3 hướng có tiềm năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi. Đến năm 2035, hình thành thêm ít nhất 10 hướng nghiên cứu mới, trong đó tối thiểu 5 hướng có tiềm năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi. Phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 10% và đến năm 2035 có ít nhất 20% nhiệm vụ thuộc các hướng nghiên cứu này có kết quả đủ điều kiện đăng ký sáng chế quốc tế hoặc có khả năng chuyển tiếp sang phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.

Phát triển nhân lực khoa học

Về phát triển nhân lực khoa học, đến năm 2030, chương trình dự kiến hỗ trợ, bồi dưỡng, kết nối trong hệ sinh thái nghiên cứu của PEBR ít nhất 500 tiến sĩ, nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ và nhà khoa học trẻ; trong đó có ít nhất 100 nhà khoa học trẻ có khả năng dẫn dắt nhóm nghiên cứu độc lập mang tầm quốc tế. Đến năm 2035, chương trình hỗ trợ ít nhất 1.000 nhà khoa học, trong đó có ít nhất 200 người có khả năng dẫn dắt nhóm nghiên cứu độc lập.

Hợp tác quốc tế và cơ chế thực hiện

Về hợp tác quốc tế, đến năm 2030, chương trình đặt mục tiêu triển khai ít nhất 100 nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu quốc tế có sự tham gia thực chất của đối tác nước ngoài; đến năm 2035 nâng lên ít nhất 300 nhiệm vụ. Mỗi nhóm nghiên cứu mạnh sẽ có ít nhất một đối tác quốc tế chiến lược.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Việc lựa chọn, tài trợ và đánh giá nhiệm vụ được thực hiện trên cơ sở cạnh tranh, công khai, minh bạch, theo tiêu chí xuất sắc khoa học. Chương trình kết hợp đánh giá chuyên gia với các chỉ số đánh giá khoa học chuẩn hóa theo lĩnh vực được quốc tế thừa nhận, như FWCI, CNCI và các chỉ số tương đương, phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực nghiên cứu.

Chương trình cũng khuyến khích đề xuất từ cộng đồng khoa học trên cơ sở tự do học thuật, đồng thời ưu tiên các lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển khoa học và công nghệ quốc gia. Cơ chế quản lý được định hướng dựa trên kết quả đầu ra và tác động, thiết lập đánh giá giữa kỳ, cuối kỳ để kịp thời điều chỉnh mục tiêu, nội dung và phương thức triển khai. Chương trình chấp nhận rủi ro khoa học phù hợp với đặc thù nghiên cứu cơ bản, đồng thời phân biệt rõ với vi phạm hành chính, tài chính.

Nguồn kinh phí và đơn vị chủ trì

Ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí thực hiện chương trình PEBR thông qua nguồn chi sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hằng năm theo quy định của pháp luật. Chương trình đồng thời đẩy mạnh huy động các nguồn kinh phí hợp pháp từ doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước. Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia là đơn vị chủ trì tổ chức thực hiện chương trình PEBR.