Đột phá khoa học công nghệ: Cần khơi thông nguồn lực và đảo ngược cơ chế đặt hàng
Đột phá khoa học công nghệ: Khơi thông nguồn lực, đảo ngược cơ chế

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV yêu cầu khẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ. Điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành, nhất là ngành khoa học và công nghệ, các viện nghiên cứu, nhà khoa học cần có những giải pháp thiết thực, hành động đổi mới mạnh mẽ.

Nhân Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam (18/5), phóng viên Báo Nhân Dân phỏng vấn Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Phó trưởng ban Chính sách chiến lược Trung ương, chung quanh những giải pháp đột phá phát triển khoa học, công nghệ trong bối cảnh đổi mới hiện nay.

Khơi thông nguồn lực

Phóng viên: Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Để đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nguồn lực con người luôn được xem là yếu tố có tính quyết định. Theo Giáo sư, thực trạng thu hút, đào tạo và trọng dụng nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện nay đã thực sự đáp ứng yêu cầu đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hay chưa?

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

GS.TS Trần Hồng Thái: Nhân lực là bài toán không lúc nào rời khỏi bàn làm việc của người lãnh đạo khoa học. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ nhân lực nghiên cứu khoa học, công nghệ của Việt Nam đạt 10,07 người/1 vạn dân, đang tiệm cận mục tiêu 12 người vào năm 2030. Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 cũng đã cho phép cơ chế đãi ngộ vượt khung lương trong trọng dụng nhân lực khoa học, công nghệ. Tuy nhiên, hiện nay, giữa chính sách và thực tiễn triển khai vẫn còn khoảng cách.

Thực tế cho thấy nguyên nhân của tình trạng chảy máu chất xám không chỉ nằm ở mức thu nhập mà còn ở môi trường nghiên cứu chưa đủ thuận lợi, rào cản thủ tục và cơ hội phát triển sự nghiệp chưa rõ ràng. Bên cạnh đó, nhà khoa học giỏi cần được trao bài toán xứng tầm và nhìn thấy con đường phát triển dài hạn chứ không chỉ cần mức lương tốt hơn.

Vì vậy, điều các cơ quan nghiên cứu và nhà nghiên cứu kỳ vọng hiện nay là chuyển biến trong đầu tư cho thế hệ nhà khoa học trẻ. Trong đó, chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030 (VREF) vừa được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt, triển khai đánh dấu bước chuyển quan trọng từ hỗ trợ đào tạo sang đầu tư trực tiếp cho nghiên cứu xuất sắc. Với việc mỗi nghiên cứu sinh có thể nhận mức hỗ trợ tối đa 1 tỷ đồng/năm, (thời gian không quá 3 năm) là mức có khả năng cạnh tranh với các chương trình đào tạo tiến sĩ tại Mỹ, Nhật Bản hay Australia.

Bên cạnh đó, với khoảng 6 triệu người Việt ở nước ngoài, trong đó nhiều chuyên gia đang làm việc tại các trung tâm công nghệ lớn trên thế giới cũng được kỳ vọng là nguồn lực rất đáng kể. Kinh nghiệm của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho thấy mô hình hợp tác theo dự án, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, tham gia bán thời gian thực tế hiệu quả hơn nhiều so với yêu cầu trở về toàn thời gian. Do đó, cần thể chế hóa rõ hơn trong các văn bản hướng dẫn sắp tới về cơ chế đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh trong thu hút, đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Cần gắn trực tiếp nghiên cứu sinh với các đề tài chiến lược của viện nghiên cứu, hướng đến những lĩnh vực đang có lợi thế và đất nước thực sự cần; đồng thời gắn nghiên cứu sinh trở thành một phần của nhóm nghiên cứu, được đầu tư để làm khoa học toàn thời gian với đầu ra cụ thể cũng nhằm thu hút, đào tạo và trọng dụng nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao. Đây cũng là cách mà nhiều viện nghiên cứu hàng đầu thế giới đã và đang thực hiện nhằm tự xây dựng thế hệ nghiên cứu kế cận ngay từ bên trong.

Phóng viên: Trong phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ, việc xây dựng đội ngũ nhà khoa học đầu ngành và các nhóm nghiên cứu mạnh được xem là hạt nhân của mọi nền khoa học tiên tiến. Ở nước ta cần xây dựng đội ngũ này ra sao trong bối cảnh đổi mới hiện nay?

GS.TS. Trần Hồng Thái: Nhà khoa học đầu ngành và nhóm nghiên cứu mạnh là hai khái niệm liên quan nhưng không đồng nhất. Một nhà khoa học có thể xuất sắc nhưng vẫn làm việc đơn độc; một nhóm có thể đông người mà không có ai đủ tầm dẫn dắt hướng đi dài hạn. Từ thực tiễn điều hành, chúng tôi nhận thấy một nhóm nghiên cứu mạnh cần hội tụ đồng thời ba yếu tố: Người dẫn dắt đủ tầm học thuật, nguồn lực được đảm bảo liên tục trong nhiều năm, đủ tự chủ để quyết định hướng nghiên cứu. Thiếu một trong ba yếu tố, nhóm sẽ khó duy trì được động lực và bản sắc khoa học riêng.

Cơ chế của chúng ta hiện nay thường bảo đảm được yếu tố thứ nhất, nhưng yếu tố thứ hai và thứ ba vẫn còn bị ràng buộc bởi chu kỳ đề tài ngắn hạn và quy trình phê duyệt không được thiết kế cho nghiên cứu dài hơi. Đây là điểm cần tập trung cải thiện, đặc biệt là trao quyền thực chất hơn cho trưởng nhóm nghiên cứu trong phạm vi ngân sách được giao. Bởi mục tiêu không chỉ là xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh theo nghĩa học thuật thuần túy, mà còn phải gắn với định hướng làm chủ công nghệ chiến lược.

Tôi lấy thí dụ Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có một mạng lưới đối tác đa dạng được xây dựng qua nhiều thập kỷ với Nga, Belarus, Cuba, Nhật Bản, Hàn Quốc… đồng thời kết nối sâu hơn với các nhà khoa học người Việt đang làm việc ở nước ngoài để các nhóm nghiên cứu trong nước trưởng thành và có tiếng nói độc lập trong cộng đồng khoa học quốc tế. Trong năm 2025, các nhà khoa học của Viện Hàn lâm đã có hơn 2.300 công trình công bố trên các tạp chí uy tín trong và ngoài nước. Tuy nhiên, theo dữ liệu từ Nature Index 2025 chỉ ra các nhóm nghiên cứu trong nước chưa đủ mạnh để đóng vai trò dẫn dắt trong các công trình khoa học quốc tế, vẫn còn phụ thuộc nhiều vào hợp tác với đối tác nước ngoài.

Những vấn đề trên đặt ra câu hỏi làm thế nào để từng bước nâng mức đóng góp thực chất của các nhóm nghiên cứu trong nước, tiến tới tham gia với tư cách đồng chủ trì chứ không chỉ là đối tác hỗ trợ. Vì vậy, cần hướng đến việc chuyển dần từ mô hình mời chuyên gia về trao đổi sang mô hình đồng nghiên cứu thực chất, cùng đặt bài toán, thiết kế, công bố và cùng chịu trách nhiệm khoa học. Đó là con đường để các nhóm nghiên cứu trong nước trưởng thành và có tiếng nói độc lập trong cộng đồng khoa học quốc tế.

Phóng viên: Cùng với nguồn nhân lực, việc tăng cường đầu tư, hoàn thiện và khai thác hiệu quả hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng là một trong những định hướng mà Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV đặt ra. Theo Giáo sư, cần kiến tạo những cơ chế, chính sách nào để tăng cường nguồn lực đẩy mạnh đầu tư hạ tầng nền tảng và cơ sở dữ liệu khoa học, công nghệ, thúc đẩy kết quả nghiên cứu gắn với thị trường?

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái: Tôi cho rằng hạ tầng nghiên cứu hiện nay có vấn đề không phải ở tổng mức đầu tư mà ở cách tổ chức. Nhất là thực trạng thiết bị mua xong không đủ kinh phí vận hành, dữ liệu từ đề tài ngân sách Nhà nước không được lưu trữ theo chuẩn dùng chung, mỗi đơn vị xây hạ tầng tính toán riêng rồi bỏ không sau khi đề tài kết thúc. Vì vậy, cần thay đổi nguyên tắc tổ chức đầu tư tập trung vào một số cụm hạ tầng quốc gia dùng chung, đặt chuẩn dữ liệu bắt buộc với mọi nhiệm vụ sử dụng ngân sách công, và giao một đầu mối chịu trách nhiệm duy trì liên tục. Làm được vậy thì tiền đã chi mới tích lũy thành nền tảng thực sự.

Về thị trường công nghệ thì nghịch lý là có kết quả nghiên cứu nhưng không có người mua một cách có tổ chức do cơ chế định giá tài sản trí tuệ và tín hiệu nhu cầu từ phía Nhà nước. Bởi vì Nhà nước là khách hàng lớn nhất của nền kinh tế cho nên khi chính sách mua sắm công chủ động ưu tiên công nghệ trong nước ở một số lĩnh vực xác định thì thị trường khoa học, công nghệ mới có lý do để hình thành. Do đó, các bộ, ngành cần cụ thể hóa vấn đề này thành các quy định để vận hành trong thực tiễn.

Đặt hàng nghiên cứu, 'cầu đi trước cung'

Phóng viên: Để đột phá phát triển khoa học, công nghệ cần xây dựng những hướng nghiên cứu ưu tiên, trong đó có nghiên cứu cơ bản. Theo Giáo sư, trong bối cảnh hiện nay cần giải pháp gì để thúc đẩy nghiên cứu cơ bản gắn với định hướng ứng dụng?

GS.TS. Trần Hồng Thái: Kết luận số 18-KL/TW định hướng chú trọng nghiên cứu cơ bản, nhất là những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế. Những lĩnh vực đó không khó nhận ra nếu ta nhìn vào hai câu hỏi thực tiễn: Khoa học có thể tác động đến bao nhiêu người dân và tạo ra giá trị kinh tế hay chiến lược ở tầm nào. Nhìn vào danh mục các nhóm công nghệ chiến lược sẽ thấy được những định hướng là khá rõ, nhưng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay chính là “thiếu sự kiên nhẫn” của cơ chế.

Trong đó, về thời gian, nghiên cứu cơ bản không thể vận hành theo chu kỳ đề tài 2-3 năm vì nhiều kết quả có giá trị thực sự cần mười năm trở lên mới trưởng thành. Vì vậy, cần thiết kế các chương trình trọng điểm dài hạn với nguồn lực ổn định và cơ chế đánh giá theo giai đoạn thực chất, không phải theo năm tài chính.

Về cơ chế đặt hàng, mô hình hiện tại phần lớn vẫn là nhà khoa học tự đề xuất rồi chờ phê duyệt, tức là “cung đi trước cầu”. Do đó, để đổi mới và tăng hiệu quả, cần đảo ngược “cầu đi trước cung”: Nhà nước và doanh nghiệp xác định trước những bài toán quốc gia cần giải, từ đó, đặt hàng nhóm nghiên cứu có năng lực với nguồn lực và thời gian phù hợp nhằm tạo ra thị trường cho khoa học, công nghệ.

Về chấp nhận rủi ro, cơ chế kiểm soát chi tiêu công hiện nay được thiết kế để đánh giá đầu ra hữu hình, trong khi nghiên cứu cơ bản không vận hành theo logic đó. Hệ quả là cả người phê duyệt lẫn người thực hiện đều có xu hướng chọn những đề tài an toàn, nghiệm thu được, thay vì những hướng dài hạn thực sự có giá trị. Vì vậy, cần thể chế hóa, thay đổi căn bản tiêu chí đánh giá, thay đổi tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản lý khoa học. Trong đó, cơ quan quản lý không đánh giá xem đề tài có đạt sản phẩm cam kết hay không, mà là đánh giá quy trình khoa học có được thực hiện nghiêm túc và trung thực hay không.

Đối với thương mại hóa kết quả, chuỗi giá trị hoàn chỉnh phải đi từ phát hiện khoa học, qua bảo hộ sở hữu trí tuệ, đến chuyển giao công nghệ và sản xuất. Tuy nhiên, chuỗi đó hiện đang đứt gãy ở khâu giữa, nhiều kết quả có giá trị ứng dụng không được đăng ký sáng chế kịp thời hoặc không có cơ chế định giá và chuyển giao. Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đã trao quyền tự động sở hữu kết quả nghiên cứu cho tổ chức chủ trì, trên cơ sở đó, cần được bổ trợ bằng cơ chế hỗ trợ định giá tài sản trí tuệ và kết nối với doanh nghiệp để vòng từ nghiên cứu đến thị trường thực sự khép lại.

Phóng viên: Thời gian qua có nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy đột phá phát triển khoa học, công nghệ. Tuy nhiên, Kết luận số 18-KL/TW cũng chỉ rõ cần khẩn trương hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ. Giáo sư đánh giá như thế nào về những nút thắt, rào cản cần tháo gỡ hiện nay để đột phá phát triển khoa học, công nghệ thành công?

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái: Kết luận số 18-KL/TW đã chỉ rõ thực trạng mà người làm khoa học chúng tôi cảm nhận cụ thể qua từng đề tài, từng dự án, từng quyết định quản lý hàng ngày. Từ góc nhìn chính sách và thực tiễn hoạt động, tôi cho rằng năm 2025 đã có những bước tiến thực chất từ thể chế, nhất là Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã giải quyết được những vướng mắc kéo dài về quyền sở hữu kết quả nghiên cứu, cơ chế khoán chi và việc công nhận công nghệ là tài sản. Đây là nền tảng pháp lý quan trọng mà các cơ quan nghiên cứu, nhà khoa học đã kiến nghị nhiều năm và thực sự đánh giá cao.

Tuy nhiên, từ kinh nghiệm triển khai, chúng tôi nhận thấy hiện nay vẫn có ba điểm nghẽn cần khắc phục.

Thứ nhất, về cơ chế quản lý: Vẫn còn khoảng cách giữa tinh thần của luật và thực tiễn vận hành, do một số nghị định hướng dẫn chưa đủ cụ thể để cán bộ quản lý và nhà khoa học có thể yên tâm thực hiện. Vì vậy, đây cần là ưu tiên xử lý trong năm 2026, bởi mỗi ngày chậm trễ là mỗi ngày tinh thần đổi mới của luật chưa đến được với người nghiên cứu.

Thứ hai, về cơ chế tài chính: Vấn đề đặt ra không chỉ là tổng mức đầu tư mà là cơ cấu đầu tư. Hiện nay, các doanh nghiệp khoa học và công nghệ nhỏ và nhóm khởi nghiệp sáng tạo vẫn rất khó tiếp cận vốn, vì tài sản trí tuệ chưa được hệ thống tín dụng định giá phù hợp. Do đó Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia cần sớm được vận hành bởi đây là công cụ tài chính mà nhiều nền kinh tế đã dùng hiệu quả để nuôi dưỡng giai đoạn rủi ro nhất của vòng đời công nghệ.

Thứ ba, về cơ chế cho đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ là điểm đáng quan tâm nhất và cũng là điểm Kết luận 18-KL/TW nêu ra như một trọng tâm độc lập. Một tổ chức nghiên cứu chiến lược quốc gia muốn hoạt động hiệu quả phải có quyền tự chủ thực chất trong: Định hướng nghiên cứu dài hạn, tuyển dụng và giữ chân nhân tài, phân bổ nguồn lực trong phạm vi ngân sách được giao. Hiện nay, cả ba điều này đều còn bị ràng buộc bởi các quy trình không được thiết kế cho đặc thù của khoa học. Vì vậy, với trọng trách mới, được giao nghiên cứu, tham mưu, đề xuất trực tiếp với Bộ Chính trị, Ban Bí thư một hành lang cơ chế, chính sách riêng phù hợp cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đang tập trung nghiên cứu, tham mưu, triển khai các giải pháp nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy đột phá phát triển khoa học, công nghệ đất nước.

Phóng viên: Trong bối cảnh yêu cầu đột phá phát triển khoa học, công nghệ ngày càng lớn, với vị thế và trọng trách mới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam sẽ có những đổi mới ra sao và Giáo sư có kỳ vọng gì ở đội ngũ nhà khoa học hiện nay?

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái: Chuyển sang trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng không chỉ là thay đổi cấp quản lý mà Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam từ nay thêm trọng trách mới, tham mưu khoa học chiến lược cho Đảng, đòi hỏi cần có những đổi mới mạnh mẽ.

Chúng tôi đang rà soát toàn bộ danh mục, xác định những hướng nghiên cứu có lợi thế thực chất để tập trung triển khai; phần còn lại sẽ điều chỉnh mức ưu tiên hoặc chuyển sang hợp tác. Cùng với đó, vấn đề quyền hạn thực của trưởng nhóm nghiên cứu và thủ trưởng đơn vị nghiên cứu thành viên cũng đang được xây dựng theo cơ chế giao chỉ tiêu dài hạn kèm quyền chủ động trong phạm vi ngân sách được giao; giải trình theo kết quả khoa học, không theo từng bước quy trình. Viện cũng đang triển khai xây dựng đề án thúc đẩy nghiên cứu cơ bản, làm chủ một số công nghệ chiến lược; tăng cường năng lực của Viện ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới…

Khoa học, công nghệ đang được đặt vào vị trí then chốt trong chiến lược phát triển của đất nước. Vì vậy, tôi tin và kỳ vọng mỗi nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu cả nước nói chung, của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng luôn nỗ lực, xứng đáng với yêu cầu mới của giai đoạn phát triển hiện nay.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Giáo sư!