Biển Việt Nam không chỉ có nắng vàng, biển xanh và những mùa du lịch sôi động. Dưới mặt nước, ven bờ và trong đời sống cộng đồng ngư dân là một “gia tài” sinh thái, văn hóa đặc sắc. “Gia tài” ấy không chỉ làm nên bản sắc của không gian biển Việt Nam, mà còn là nguồn lực kinh tế quan trọng, tạo nền tảng để du lịch biển phát triển thành ngành kinh tế có giá trị cao, gắn kết bảo tồn thiên nhiên, gìn giữ văn hóa bản địa và nâng cao sinh kế cộng đồng ven biển.
Từ những bãi tắm mùa hè đến cực tăng trưởng của kinh tế biển
Trong ký ức của nhiều người, du lịch biển một thời thường gắn với những chuyến xe cơ quan xuống Sầm Sơn, Đồ Sơn hay Hạ Long vào mùa hè. Biển khi ấy là vài ngày nghỉ tập thể. Ông Bùi Ngọc Dũng, một cán bộ đã nghỉ hưu ở Hà Nội, vẫn nhớ những chuyến đi như thế. Mỗi mùa hè, cơ quan lại tổ chức cho cán bộ, công nhân viên ra biển. Vui, nhưng giản dị. Biển trong hình dung của ông nhiều năm vẫn chỉ là nơi để nghỉ mát, không phải một không gian dịch vụ, càng chưa phải một chuỗi trải nghiệm. Bởi vậy, lần trở lại Hạ Long dịp nghỉ 30/4 mới đây, ông không khỏi ngỡ ngàng. Cũng là đi biển, nhưng trước mắt ông không còn chỉ là bãi tắm và nhà nghỉ. Những tuyến phố ven biển sáng đèn, lễ hội Carnival, cáp treo, khu vui chơi, bến du thuyền, khách sạn cao cấp, nhà hàng, sản phẩm đêm và các dịch vụ ven bờ. Hình ảnh đó cho thấy, du lịch biển Việt Nam đang đi qua giai đoạn chỉ “bán cảnh quan” để bước vào giai đoạn kiến tạo không gian dịch vụ.
Nhìn rộng hơn trong tổng thể kinh tế biển, du lịch và dịch vụ biển đang nổi lên như một trong những lĩnh vực có khả năng tạo chuyển động rõ nhất ở các địa phương ven biển. Theo báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong giai đoạn 2018-2024, lượng khách du lịch đến các địa phương ven biển tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước, đạt 13,6%/năm đối với khách quốc tế và 12,3%/năm đối với khách nội địa. Tổng lượng khách quốc tế đến các tỉnh, thành phố ven biển đạt hơn 53,9 triệu lượt, khách nội địa đạt 435,8 triệu lượt, tổng thu từ du lịch đạt 2.514 nghìn tỷ đồng.
Theo bà Phan Linh Chi, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, du lịch biển, đảo đang trải qua những chuyển biến có ý nghĩa bước ngoặt. Điều dễ nhận thấy nhất là sự thay đổi trong tư duy phát triển. Nếu trước đây nhiều điểm đến biển chủ yếu khai thác cảnh quan, bãi tắm và nhu cầu nghỉ dưỡng mùa hè, thì những năm gần đây, các địa phương và nhà đầu tư chiến lược đã hướng tới xây dựng các tổ hợp du lịch-nghỉ dưỡng-giải trí quy mô lớn, đồng bộ hơn. Những quần thể như Nam Phú Quốc, Vinpearl Phú Quốc, Vinpearl Nha Trang, Vinpearl Nam Hội An, FLC Quy Nhơn hay BRG Da Nang Golf Resort cho thấy du lịch biển không còn vận hành bằng các dịch vụ rời rạc, mà từng bước kết nối lưu trú, ẩm thực, mua sắm, vui chơi giải trí, thể thao, MICE thành một chuỗi giá trị khép kín. Đây là sự dịch chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, hướng tới tối đa hóa trải nghiệm và khả năng chi tiêu của du khách.
Cùng với thay đổi về quy mô là sự thay đổi rõ rệt về chất lượng sản phẩm, không còn bó hẹp trong khái niệm “tắm biển”. Du lịch biển không chỉ phục vụ phân khúc khách đại chúng như trước, mà đã mở rộng mạnh sang nhóm khách có khả năng chi trả cao, đòi hỏi dịch vụ tinh tế hơn, riêng tư hơn và giàu trải nghiệm hơn. Sự xuất hiện của hàng loạt khu nghỉ dưỡng, khách sạn 5 sao mang thương hiệu quốc tế và trong nước như Amanoi Ninh Thuận, Four Seasons The Nam Hai, Six Senses Ninh Van Bay, JW Marriott Phú Quốc, InterContinental Danang Sun Peninsula Resort… đã góp phần thiết lập những chuẩn mực mới cho du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.
Những chuyển biến đó cho thấy lợi thế biển, đảo của Việt Nam đang từng bước được chuyển hóa thành giá trị kinh tế. Về kinh tế, du lịch biển, đảo là hợp phần đóng góp quan trọng vào tổng thu của toàn ngành du lịch. Giai đoạn 2021-2025, ngành du lịch đóng góp ổn định khoảng 8% GDP mỗi năm và tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh kinh tế-xã hội. Dòng vốn hàng chục nghìn tỷ đồng từ các tập đoàn kinh tế tư nhân vào các dự án ven biển là minh chứng rõ nét cho sức hấp dẫn của lĩnh vực này. Các quần thể du lịch quy mô lớn đã góp phần thay đổi diện mạo kinh tế địa phương, đồng thời kéo theo sự phát triển của xây dựng, bất động sản, giao thông vận tải, thương mại, nông nghiệp công nghệ cao và tiểu thủ công nghiệp.
Không thể mãi dựa vào “nắng vàng, biển xanh”
Nhưng phía sau sự sôi động của những mùa du lịch biển là một thực tế khác. Thực tế, du lịch biển là loại hình gắn chặt với nhu cầu nghỉ dưỡng, chịu tác động rõ của thời tiết và có tính mùa vụ cao. Một số trung tâm du lịch biển ở duyên hải miền trung và phía nam có thể khai thác quanh năm, trong khi nhiều khu vực ven biển phía bắc và Bắc Trung Bộ vẫn tập trung mạnh vào mùa hè. Chính tính mùa vụ ấy khiến hạ tầng, nhân lực, dịch vụ và năng lực quản trị điểm đến thường rơi vào trạng thái “lúc quá tải, lúc trầm lắng”.
Khó khăn tiếp đó là sự giống nhau trong sản phẩm. Không ít địa phương ven biển vẫn chủ yếu dựa vào lợi thế sẵn có: Bãi tắm, hải sản, khách sạn, lễ hội mùa hè. Khi cùng khai thác những sản phẩm tương tự, điểm đến dễ thiếu bản sắc, khó hình thành năng lực cạnh tranh riêng. Du lịch biển thời gian tới cần chuyển từ mở rộng quy mô sang quản trị bền vững, gắn kiểm soát sức chứa, bảo vệ môi trường, nâng chất lượng dịch vụ, phát triển sản phẩm đặc thù, hạ tầng với lợi ích của cộng đồng ven biển.
Thực tế này cũng được nhìn thấy ở Quảng Ninh, ngay cả khi đây là địa phương đi đầu về phát triển du lịch biển, đảo. Thách thức không nằm ở thiếu thương hiệu. Vấn đề khó hơn là làm sao để không gian di sản, vùng lõi, vùng đệm và các khu vực ven biển, hải đảo được khai thác đồng bộ nhưng không làm tổn thương giá trị cảnh quan. Vì vậy, tỉnh đang đặt ra yêu cầu hệ thống lại nhóm sản phẩm, dịch vụ du lịch trên vịnh Hạ Long, cả vùng lõi và vùng đệm di sản; đồng thời rà soát, bổ sung quy hoạch bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị vịnh Hạ Long để bảo đảm khai thác hiệu quả, bền vững, phù hợp yêu cầu bảo tồn.
Tại Đà Nẵng, khó khăn lại ảnh hưởng bởi một đô thị biển tăng trưởng nhanh. Theo ông Trần Nam Hưng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, áp lực môi trường và hạ tầng du lịch ngày càng lớn do lượng khách tăng, dẫn đến quá tải cục bộ về giao thông, bãi đỗ xe, rác thải, tiếng ồn và các hạ tầng tiện ích khác.
Trong khi đó, Lâm Đồng sau khi mở rộng không gian phát triển ra biển lại đối mặt với một “điểm nghẽn” rất cụ thể - kết nối. Theo ông Nguyễn Linh Vũ, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh Lâm Đồng, du lịch biển được tỉnh định vị là mảnh ghép trọng điểm trong mô hình “biển-cao nguyên-đại ngàn”. Mũi Né được đặt trong không gian phát triển mới, kết nối với Đà Lạt, Gia Nghĩa, Phan Thiết để tạo ra hành trình “sáng tắm biển, chiều săn mây, tối cắm trại rừng thông”. Tuy nhiên, việc di chuyển từ trung tâm tỉnh (Đà Lạt) đến các vùng kinh tế biển trọng điểm vẫn chủ yếu dựa vào các tuyến quốc lộ cũ, là quốc lộ 27, quốc lộ 28B hoặc đường đèo quanh co, mất nhiều thời gian. Sự chậm trễ này khiến khả năng cộng hưởng, mở rộng không gian du lịch từ “rừng xuống biển” bị hạn chế đáng kể.
Du lịch biển chất lượng cao không chỉ cần tài nguyên, mà cần hạ tầng, liên kết vùng và năng lực điều phối sản phẩm. Ông Nguyễn Linh Vũ cho biết, việc giữ chân du khách trong một chuỗi hành trình “cao nguyên-biển cả” khép kín cũng chưa phát huy hết tiềm năng do thiếu sản phẩm du lịch giao thoa đồng bộ; đồng thời hiện chưa có một cơ quan điều phối liên tỉnh đủ mạnh để thiết kế các gói kích cầu và sản phẩm trọn gói xuyên suốt từ miền núi xuống tuyến bờ biển phía đông. Điều đó cho thấy du lịch biển chất lượng cao không chỉ cần tài nguyên, mà cần hạ tầng, liên kết vùng và năng lực điều phối sản phẩm.
Bởi vậy, du lịch biển thời gian tới cần chuyển từ mở rộng quy mô sang quản trị bền vững, gắn kiểm soát sức chứa, bảo vệ môi trường, nâng chất lượng dịch vụ, phát triển sản phẩm đặc thù, hạ tầng với lợi ích của cộng đồng ven biển. Đó là điều kiện để du lịch biển vượt qua tính mùa vụ và trở thành trụ cột thực sự của kinh tế biển.
Biến lợi thế biển thành giá trị bền vững
Để du lịch biển Việt Nam thật sự trở thành một trụ cột quan trọng của kinh tế biển, vấn đề đặt ra không chỉ là tiếp tục khai thác những lợi thế sẵn có về bãi biển, đảo, vịnh, khí hậu hay tài nguyên văn hóa ven biển. Điều quan trọng hơn là phải chuyển mạnh từ tư duy phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; từ thu hút đông khách sang nâng cao giá trị trải nghiệm, mức chi tiêu, thời gian lưu trú và khả năng quay trở lại của du khách.
Trước hết, cần đổi mới cách nhìn về sản phẩm du lịch biển. Du lịch biển không thể là đưa khách đến một bãi tắm, một khu nghỉ dưỡng hay một hòn đảo để nghỉ ngơi ngắn ngày. Cách tiếp cận mới là một “không gian trải nghiệm” hoàn chỉnh, trong đó du khách được cảm nhận chất lượng dịch vụ trong toàn bộ hành trình. Chất lượng ấy không chỉ nằm trong khuôn viên khách sạn hay khu nghỉ dưỡng, mà bắt đầu từ cảnh quan bãi biển công cộng, vệ sinh môi trường, an toàn giao thông, sự thuận tiện của dịch vụ công cộng, mức độ chuyên nghiệp của các hoạt động vui chơi, thể thao biển, cho đến thái độ thân thiện của người dân địa phương.
Cùng với đổi mới tư duy phát triển, cần khẩn trương rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Du lịch năm 2017 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, theo hướng đưa các yêu cầu về bảo vệ môi trường trở thành điều kiện bắt buộc trong phát triển du lịch biển. Trong đó, việc đánh giá tác động môi trường, xác định sức tải của các khu, điểm du lịch biển, lồng ghép tiêu chuẩn du lịch xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu cần được quy định rõ ràng, có cơ chế giám sát và chế tài thực thi cụ thể.
Đồng thời, cần sớm xây dựng bộ tiêu chí, tiêu chuẩn quốc gia về du lịch sinh thái biển. Đây không chỉ là căn cứ để công nhận, quản lý và chuẩn hóa các mô hình du lịch sinh thái, mà còn là nền tảng pháp lý để thiết kế các chính sách ưu đãi về tín dụng, thuế, đất đai, tiếp cận hạ tầng và hỗ trợ kỹ thuật. Khi có khung tiêu chuẩn thống nhất, các địa phương và doanh nghiệp sẽ có cơ sở rõ ràng hơn để đầu tư có trách nhiệm, vừa khai thác hiệu quả giá trị biển, vừa bảo vệ hệ sinh thái và bảo đảm lợi ích lâu dài cho cộng đồng ven biển.
Các địa phương ven biển cũng cần phát triển những chuỗi sản phẩm có chiều sâu, có bản sắc và có khả năng phân khúc thị trường rõ ràng. Với nhóm khách nghỉ dưỡng cao cấp, cần có các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, nghỉ dưỡng dài ngày, du thuyền, golf, ẩm thực cao cấp, mua sắm và giải trí về đêm. Với nhóm khách trẻ, có thể phát triển các hoạt động thể thao biển, lễ hội âm nhạc, marathon biển, trải nghiệm khám phá đảo, lặn biển, chèo thuyền, camping ven biển. Với nhóm khách quan tâm đến văn hóa và thiên nhiên, cần khai thác tốt hơn các làng chài cổ, lễ hội truyền thống, nghề biển, ẩm thực bản địa, hệ sinh thái rừng ngập mặn, rạn san hô và các khu bảo tồn biển. Khi mỗi địa phương tìm được câu chuyện riêng, bản sắc riêng và nhóm sản phẩm riêng, du lịch biển Việt Nam mới tránh được tình trạng nơi nào cũng giống nơi nào, mùa nào cũng chỉ dựa vào tắm biển và hải sản.
Một giải pháp quan trọng khác là thay đổi thước đo phát triển. Trong thời gian dài, nhiều địa phương thường lấy số lượng khách làm chỉ báo chủ yếu cho tăng trưởng du lịch. Du lịch biển cần chuyển sang các chỉ số thực chất hơn như doanh thu trên mỗi lượt khách, số đêm lưu trú bình quân, tỷ lệ khách quay trở lại, mức độ hài lòng của du khách và lợi ích kinh tế lan tỏa đến cộng đồng địa phương. Muốn đạt được điều này, các điểm đến phải có thêm nhiều dịch vụ bổ trợ sau thời gian tắm biển, tham quan ban ngày; phải phát triển kinh tế ban đêm, phố ẩm thực, trung tâm mua sắm, biểu diễn nghệ thuật, công viên chủ đề, tuyến tham quan liên vùng và các sự kiện văn hóa-thể thao có sức hút quanh năm.
Từ thực tiễn các địa phương ven biển có thể thấy phải đẩy mạnh liên kết vùng để hình thành các hành trình đa trải nghiệm, kết nối biển với đô thị, di sản, cao nguyên, rừng, sông nước và văn hóa bản địa. Để hiện thực hóa hướng đi này, hạ tầng kết nối phải được xem là điều kiện nền tảng. Các tuyến giao thông ven biển, cảng biển, bến thủy nội địa, sân bay, trung tâm logistics, hạ tầng số, cấp thoát nước, xử lý rác thải và không gian dịch vụ công cộng cần được đầu tư đồng bộ, tránh tình trạng sản phẩm du lịch phát triển nhanh hơn năng lực tiếp nhận của điểm đến. Đồng thời, các địa phương cần thu hút có chọn lọc những nhà đầu tư chiến lược, thương hiệu quản lý quốc tế và dự án có khả năng tạo sản phẩm biểu tượng, thay vì chỉ mở rộng thêm cơ sở lưu trú.
Một trụ cột khác là chuyển đổi kép, gồm chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Chuyển đổi xanh giúp kiểm soát sức chứa, giảm rác thải nhựa, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ rạn san hô, rừng ngập mặn, cảnh quan ven bờ và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chuyển đổi số giúp quản trị điểm đến thông minh hơn thông qua bản đồ số, vé điện tử, dữ liệu liên thông về giao thông, lưu trú, dịch vụ, phản hồi du khách và cảnh báo quá tải.
Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến, quảng bá; thay đổi cách tiếp cận thị trường du lịch đối với sản phẩm du lịch biển; điểm đến đa dạng trải nghiệm cho đa dạng thị trường nguồn khách, gắn kết hoạt động du lịch biển với các hoạt động văn hoá, sự kiện, sáng tạo, du lịch đêm, lễ hội, giải trí, y tế, giáo dục và bảo vệ môi trường. Tổ chức thường niên các tuần lễ biển quốc tế, lễ hội du thuyền, marathon biển, sự kiện ẩm thực, các cuộc thi quốc tế nhằm thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và du khách. Xây dựng chiến dịch truyền thông quốc tế, liên kết với các trung tâm du lịch nghỉ dưỡng biển trên thế giới với các trung tâm du lịch biển của Việt Nam để tăng hiệu quả truyền thông.
Khi được tổ chức lại không gian phát triển, nâng chất lượng sản phẩm, bảo vệ tài nguyên và kết nối hiệu quả các ngành dịch vụ liên quan, du lịch biển mới thật sự vượt khỏi vai trò một ngành kinh tế đơn lẻ để trở thành động lực tổng hợp, góp phần hình thành các cực tăng trưởng kinh tế biển, hiện đại và bền vững.



