Ngành giáo dục Việt Nam đang bước vào giai đoạn mang tính lịch sử với cuộc đại tu toàn diện mạng lưới các cơ sở giáo dục từ bậc mầm non đến đại học. Đây không còn là những chuyển động nhỏ lẻ mà là chiến lược tổng thể được hiện thực hóa bằng Nghị quyết 105/NQ-CP của Chính phủ.
Chiến lược từ ngoài vào trong
Với mục tiêu tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động, ngành giáo dục đang đứng trước phép thử lớn nhất trong thập kỷ: Làm thế nào để sáp nhập mà không gây xáo trộn, để cộng gộp nhưng lại tạo ra sức mạnh cấp số nhân?
Việc sắp xếp các cơ sở giáo dục đang được tiến hành theo phương pháp đi từ vòng ngoài vào lõi. Các trường đại học đóng tại địa bàn tỉnh, các trường cao đẳng tại địa phương đang là những đơn vị tiên phong thực hiện sáp nhập. Trong khi đó, tại các thành trì giáo dục lớn như Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng, các trường đại học vẫn đang trong trạng thái chờ đợi phương án chi tiết từ các cơ quan chủ quản.
Theo thống kê, khoảng 140 trường đại học công lập nằm trong diện rà soát và sắp xếp. Đây là một con số đòi hỏi một lộ trình thận trọng. Chính phủ đã yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng Đề án tổ chức lại hệ thống cơ sở giáo dục đại học, trong đó kiên quyết giải thể hoặc hợp nhất các đơn vị không đạt chuẩn hoặc hoạt động kém hiệu quả.
Những bước đi đầu tiên đã được cụ thể hóa. Hai trường Cao đẳng Luật miền Nam và miền Bắc (thuộc Bộ Tư pháp) đã chính thức được sáp nhập vào Đại học Cần Thơ và Đại học Khoa học (Đại học Thái Nguyên). Đồng thời, trường Đại học Tài chính - Kế toán cũng đã trở thành phân hiệu Quảng Ngãi của trường Đại học Tài chính - Marketing tại TP.HCM (Bộ Tài chính). Những chuyển động này cho thấy quyết tâm của Chính phủ trong việc xóa bỏ tình trạng phân tán nguồn lực, tập trung sức mạnh về những đầu mối có năng lực quản trị tốt hơn.
Không chỉ ở bậc đại học, giáo dục nghề nghiệp và phổ thông cũng sáp nhập với những tiêu chuẩn định lượng khắt khe. Nghị quyết 105/NQ-CP yêu cầu, đối với giáo dục nghề nghiệp, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ chỉ còn tối đa không quá 3 trường dạy nghề công lập (không tính các đơn vị tự chủ tài chính 100%). Các trường trung cấp nghề nếu không thể tự chủ sẽ phải sáp nhập vào các trường cao đẳng. Ngược lại, các trường cao đẳng không đạt tiêu chuẩn sẽ được nhúng vào hệ thống giáo dục đại học để hình thành các chuỗi đào tạo liên thông.
Sáp nhập trong giáo dục mầm non và phổ thông
Đối với giáo dục mầm non và phổ thông, nguyên tắc xuyên suốt là mỗi đơn vị hành chính cấp xã phải có ít nhất một trường mầm non, một tiểu học và một trung học cơ sở. Việc sáp nhập chỉ diễn ra trong phạm vi cấp xã để tránh gây khó khăn cho việc đi lại của học sinh. Đặc biệt, Chính phủ nhấn mạnh việc xóa bỏ các điểm trường lẻ không đạt chuẩn, ưu tiên dồn dịch về các điểm trường chính được đầu tư bài bản về cơ sở vật chất.
Tại các vùng dân cư thưa thớt, vùng sâu vùng xa, mô hình trường phổ thông có nhiều cấp học (như tiểu học và trung học cơ sở), mô hình liên cấp sẽ là giải pháp trọng tâm để tối ưu hóa bộ máy quản lý và biên chế giáo viên.
Không nên sáp nhập một cách cơ học
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Sơn, Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chia sẻ cái nhìn sâu sắc về hệ thống đào tạo giáo viên từ việc sáp nhập các trường cao đẳng sư phạm vào trường đại học. Theo ông, mục tiêu đến năm 2030, hệ thống các trường cao đẳng sư phạm độc lập sẽ không tồn tại là một định hướng tất yếu. Tuy nhiên, sáp nhập không đơn thuần là thay tên, đổi biển.
Vấn đề cốt lõi mà ông Sơn nhấn mạnh là dòng chảy đào tạo. Khi một trường cao đẳng sáp nhập vào đại học, nó phải tạo ra được một hệ sinh thái đào tạo từ trình độ cao đẳng, đại học lên đến sau đại học. Điều này đặc biệt quan trọng đối với giáo dục mầm non, lĩnh vực vẫn đang tuyển dụng giáo viên bậc cao đẳng. Việc duy trì đào tạo cao đẳng mầm non trong lòng một trường đại học giúp vừa đáp ứng nhu cầu thực tế của địa phương, vừa có bệ phóng để nâng chất lượng giáo viên theo chuẩn mới.
Một cảnh báo quan trọng khác từ phía chuyên gia là nguy cơ làm yếu đi cơ sở tiếp nhận. Ông Sơn khẳng định: “Chúng ta không thể sáp nhập một cách cơ học để rồi khiến năng lực của trường đại học bị kéo lùi do phải gánh vác các đơn vị yếu kém”. Việc lựa chọn cặp đôi để sáp nhập phải dựa trên sự tương đồng về chuyên môn và khả năng hỗ trợ lẫn nhau về nguồn lực.
Thách thức khó khăn nhất trong quá trình này chính là con người. Một khoảng cách lớn về chuẩn trình độ giữa giảng viên cao đẳng và đại học. Trong khi đại học yêu cầu tỷ lệ tiến sĩ và khả năng nghiên cứu khoa học cao, giảng viên cao đẳng thiên về thực hành nghề nghiệp. Làm sao để sắp xếp giảng viên cao đẳng vào hệ thống đại học mà không gây xung đột về mặt quyền lợi và chuyên môn? Cần có cơ chế khuyến khích và thời gian để đội ngũ này tự bồi dưỡng, đạt chuẩn tiến sĩ theo quy định của Luật Giáo dục Đại học.
Sinh viên của các đơn vị bị sáp nhập phải được đảm bảo các quy trình đào tạo, đánh giá và cấp bằng theo đúng cam kết, không được để các em chịu thiệt thòi vì sự thay đổi về mặt tổ chức.
Ghi nhận cho thấy một số cơ sở giáo dục đại học tại Hà Nội bày tỏ lo lắng nếu bị giao nhận các đơn vị yếu hơn sáp nhập. Bởi khi sáp nhập không phải chỉ là chuyện cộng cơ học các con số cơ sở vật chất, con người mà quan trọng hơn là trình độ, chất lượng đội ngũ. Cùng với đó là chất lượng sinh viên. Sự vênh nhau này sẽ tạo áp lực lớn cho cả hai bên khi sáp nhập.



