Hội thảo quốc gia bàn giải pháp đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục
Ngày 3.4, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức hội thảo quốc gia với chủ đề "Giải pháp công nghệ trong thực hiện chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục". Sự kiện thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà quản lý giáo dục nhằm thảo luận các chiến lược và thách thức trong việc nâng cao vị thế của tiếng Anh trong hệ thống giáo dục Việt Nam.
Tiếng Anh là chuẩn đầu vào, không phải chuẩn đầu ra
Tại hội thảo, ông Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng trường Đại học FPT, chia sẻ quan điểm rõ ràng: tiếng Anh không phải là chuẩn đầu ra mà là chuẩn đầu vào. Theo ông, sau khi trúng tuyển, sinh viên nào chưa đạt yêu cầu về tiếng Anh sẽ được tham gia khóa học dự bị trước khi bắt đầu chuyên ngành. Ông Tùng nhấn mạnh: "Tiếng Anh là công cụ, không phải là một môn học, bởi nếu là môn học thì mãi mãi nó chỉ là môn học". Điều này thể hiện qua việc phần lớn chương trình đào tạo, thi cử tại trường đều được thực hiện bằng tiếng Anh.
Ông Tùng cho rằng trách nhiệm lớn trong việc biến tiếng Anh thành công cụ thuộc về các trường phổ thông. Hiện nay, nhiều trường đại học phải dạy dự bị tiếng Anh cho sinh viên mới nhập học do trường phổ thông chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ này. Ông đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép sử dụng sách giáo khoa toán và các môn khoa học tự nhiên từ nước ngoài thay thế sách trong nước, tạo điều kiện dạy các môn này bằng tiếng Anh.
Đồng thuận từ các chuyên gia giáo dục
Ông Đỗ Tuấn Minh, Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia Hà Nội), đồng tình với quan điểm coi tiếng Anh là công cụ. Ông nhận định: "Chừng nào còn là môn học thì tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai còn xa vời lắm. Nó phải là công cụ". Ông dẫn chứng từ Đại học Kinh tế quốc dân, nơi tiếng Anh không chỉ là ngoại ngữ mà đã trở thành ngôn ngữ trong giáo trình đào tạo, văn bản hành chính và giao tiếp hàng ngày.
Ông Lê Anh Đức, Trưởng phòng Quản lý đào tạo Đại học Kinh tế quốc dân, cho biết trường có khoảng 50-60% chương trình đào tạo bằng tiếng Anh. Cách tiếp cận không chỉ dừng ở công cụ chuyên môn mà còn mở rộng sang các hoạt động khác. Việc tuyển dụng giảng viên và nhân viên hành chính đều yêu cầu năng lực tiếng Anh, ưu tiên ứng viên tốt nghiệp từ cơ sở đào tạo quốc tế. Trường cũng đã khảo sát trình độ tiếng Anh toàn diện và cải thiện hạ tầng với bảng chỉ dẫn song ngữ.
Tuy nhiên, ông Đức cảnh báo về sự bất bình đẳng nếu chỉ ưu tiên sinh viên có năng lực tiếng Anh tốt, đặc biệt với học sinh vùng sâu, vùng xa. Ông đề xuất Nhà nước cần có chính sách cụ thể để tổ chức khóa dự bị tiếng Anh, đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục.
Thách thức và giải pháp từ cơ sở đào tạo
Đại diện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chia sẻ đã bổ sung 15 tín chỉ tiếng Anh cho sinh viên mới và chuẩn bị tài liệu bồi dưỡng giáo viên phổ thông dạy các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh trên toàn quốc.
Nhóm tác giả Nguyễn Đăng Nguyên và Đinh Ngọc Long từ Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TP.HCM) chỉ ra khó khăn lớn là định kiến sai lầm của xã hội về tiếng Anh. Họ đề nghị Việt Nam cần đưa ra định nghĩa chính thức cho "tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai" và phân biệt với việc học ngoại ngữ thông thường. Nhóm cũng nhấn mạnh việc đào tạo giáo viên có năng lực giảng dạy song ngữ bài bản, rà soát khẩn trương khả năng dạy bằng tiếng Anh của đội ngũ hiện có.
Khó khăn về nguồn lực và môi trường
Ông Đặng Văn Huấn, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), thông tin đội ngũ giảng viên là yếu tố cản trở do khó khăn trong thu hút và giữ chân nhân tài có năng lực ngoại ngữ xuất sắc. Bên cạnh đó, vấn đề cơ sở vật chất và tài chính cũng là thách thức phổ biến, đặc biệt tại các trường ở vùng xa trung tâm, nơi môi trường sử dụng tiếng Anh còn hạn chế, làm giảm cơ hội thực hành và động lực học tập của sinh viên.
Bà Nguyễn Thị Mai Hữu, Trưởng ban quản lý Đề án dạy và học ngoại ngữ, đề xuất triển khai theo hướng phân tầng mục tiêu rõ ràng. Các đại học nghiên cứu và trường trọng điểm cần hình thành hệ sinh thái đào tạo song ngữ, với 30-70% học phần giảng dạy bằng tiếng Anh, hướng tới các chương trình giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh (EMI) trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế và quản trị.
Mục tiêu dài hạn đến năm 2045
Theo kế hoạch từ Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, mục tiêu được chia thành các giai đoạn cụ thể:
- Giai đoạn 2025-2030: Ít nhất 20% cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 1, 5% đạt mức độ 2 và 3% đạt mức độ 3.
- Giai đoạn 2030-2035: Ít nhất 30% đạt mức độ 1, 20% đạt mức độ 2 và 5% đạt mức độ 3.
- Giai đoạn 2035-2045: Đến năm 2040, ít nhất 40% đạt mức độ 1, 35% đạt mức độ 2 và 15% đạt mức độ 3. Đến năm 2045, ít nhất 50% đạt mức độ 2 và 25% đạt mức độ 3.
Ông Vũ Thanh Mai, Phó ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, khẳng định vai trò người thầy là yếu tố quan trọng nhất trong việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai. Do đó, nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên và giảng viên phải được ưu tiên hàng đầu để đạt được các mục tiêu đề ra.



