Mỏ than Mông Dương: Từ lò giếng đứng đầu tiên đến kỷ lục sản lượng mới
Mỏ than Mông Dương: Từ lò giếng đứng đến kỷ lục sản lượng

Thời xa xưa, khai thác than dưới lòng đất được gọi là "moong âm", còn khai thác than lộ thiên là "moong dương". Theo thời gian, những người thợ mỏ đã nói trại thành "Mông Dương" và cái tên ấy tồn tại cho đến ngày nay.

Tăng trưởng trong khó khăn

Mỏ Mông Dương từ lâu đã nổi tiếng với sản lượng cao và chất lượng than tốt. Nằm ở vị trí gần cuối dải than vùng Đông Bắc, mỏ này có một lịch sử lâu đời. Đầu năm 1934, người Pháp khởi công xây dựng lò giếng đứng đầu tiên ở Việt Nam tại Mông Dương, khai thác than hầm lò ở độ sâu 97,5 mét. Tháng 4 năm 1938, lò giếng đứng Mông Dương chính thức đi vào hoạt động với công suất ban đầu gần 7.000 tấn than mỗi năm. Chỉ sau 6 năm, sản lượng đã đạt hơn 700.000 tấn.

Sau khi Việt Nam tiếp quản mỏ, trong giai đoạn 1967-1982, sản lượng lò giếng đứng Mông Dương tăng từ 200.000 tấn lên 400.000 tấn mỗi năm. Năm 1982, mỏ than Mông Dương-Khe Chàm chính thức được thành lập với hơn 350 cán bộ, công nhân viên. Trong hơn 40 năm qua, hầu như năm nào mỏ Mông Dương cũng phải đối mặt với khó khăn và thách thức.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Di tích lò giếng đứng đầu tiên tại Than Mông Dương bao gồm 5 công trình: khối giếng đứng chính, khối giếng đứng phụ, quạt thông gió, kho chứa than và nhà điều hành sản xuất, với tổng diện tích hơn 3.300 mét vuông. Lò giếng đứng Mông Dương là minh chứng cho trí tuệ, năng lực quản lý và ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào khai thác mỏ, góp phần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất và thân thiện với môi trường.

Hằng năm, lò giếng đứng Mông Dương vẫn được tu bổ, giữ gìn hiện trạng, vừa bảo tồn vừa khai thác. Đây là một di sản văn hóa động, được các cơ quan chức năng bảo tồn và phát huy truyền thống, kết hợp hài hòa lợi ích kinh tế với giá trị lịch sử văn hóa trong công cuộc xây dựng phát triển kinh tế và bảo tồn di tích.

Từ phương pháp khai thác than thô sơ với sản lượng chỉ vài nghìn tấn mỗi năm, ngày nay công nghệ vận hành lò giếng đứng Mông Dương đã có bước phát triển vượt bậc, cung cấp cho Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam khoảng 1,6 triệu tấn than mỗi năm. Đây cũng là đơn vị tiên phong đổi mới phương pháp điều hành, tổ chức sản xuất theo hướng hiện đại, đóng góp cho tập đoàn những bài học kinh nghiệm hiệu quả về mô hình quản trị doanh nghiệp.

Cơ giới hóa và chuyển đổi số là trụ cột sản xuất than bền vững

Năm 2025 vừa qua, giữa bối cảnh thị trường than biến động và thách thức địa chất phức tạp, các lò chợ phải chuyển diện tới 18 lần (nhiều nhất trong nhiều năm), nhưng thợ lò Mông Dương đã tạo nên thành tựu mang ý nghĩa "bước ngoặt". Theo lãnh đạo Than Mông Dương, mỗi lần chuyển diện là công ty bị thay đổi toàn bộ nhịp sản xuất, mất thời gian và công suất. Nhiều gương lò gặp vùng không vỉa, buộc công ty phải mở lò bổ sung, dẫn đến chi phí tăng cao và ảnh hưởng tiến độ.

Dù khó khăn liên tiếp, Than Mông Dương vẫn "cán đích" sớm kế hoạch sản xuất năm 2025, lập kỷ lục mới với sản lượng khai thác đạt 1,68 triệu tấn, tăng 7% so với năm 2024. Đây là sản lượng than khai thác cao nhất kể từ khi thành lập mỏ.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Trong bối cảnh Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam siết chặt yêu cầu an toàn, nâng chuẩn công nghệ và chuẩn hóa quy trình, Mông Dương phải đối mặt đồng thời ba thách thức: giữ ổn định sản lượng, giảm giá thành và nâng cao năng suất lao động. Năm 2025, Than Mông Dương không có sự cố loại I hay loại II, không để xảy ra tai nạn nghiêm trọng; số vụ tai nạn giảm hơn 53%, mức giảm sâu nhất trong nhiều năm qua.

Với điều kiện sản xuất ngày càng xuống sâu và áp lực địa chất lớn, thành tích này chứng minh tư duy quản trị rủi ro, sự vào cuộc quyết liệt của lãnh đạo và kỷ luật lao động được nâng lên rõ rệt. Năm 2025 cũng cho thấy Mông Dương không tăng trưởng nhờ thuận lợi, mà tăng trưởng trong nghịch cảnh, khi khó khăn và thách thức lớn bủa vây. Sản lượng khai thác đạt mức cao nhất từ trước đến nay chính là vạch đích của chuỗi quyết sách bền bỉ, đúng đắn về đầu tư trọng điểm, đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ đội ngũ trong nhiều năm của đơn vị.

Bước phát triển mới

Năm 2026 và định hướng giai đoạn phát triển về sau, Than Mông Dương đứng trước những yêu cầu và thách thức cao hơn, như khai thác sâu hơn, áp lực an toàn lớn hơn, đòi hỏi công nghệ cao hơn. Tập thể người lao động trong đơn vị cần tích lũy và tạo nền tảng bền vững để bước vào giai đoạn tăng trưởng mới một cách chủ động.

Giám đốc Công ty Lương Thanh Chung cho biết, năm nay Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam giao đơn vị khai thác 1,5 triệu tấn than nguyên khai. Từ đầu năm 2026 đến nay, mặc dù đối mặt nhiều khó khăn như diện sản xuất nhỏ lẻ, số lần chuyển diện nhiều, điều kiện địa chất khó khăn, lò chợ cơ giới hóa độ dốc lớn (có lúc đến 37 độ), song hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty vẫn duy trì ổn định.

"Trong 5 tháng đầu năm, than nguyên khai của công ty ước đạt hơn 632.500 tấn, dự kiến 6 tháng đạt hơn 785.000 tấn (hơn 52% kế hoạch năm); tiêu thụ hơn 637.800 tấn, dự kiến 6 tháng đạt 784.000 tấn; tiền lương bình quân của người lao động đạt 22,8 triệu đồng/người/tháng", ông Chung cho biết.

Mới đây, nhân dịp Tháng Công nhân năm 2026, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam Ngô Hoàng Ngân đã trực tiếp đi kiểm tra hiện trường sản xuất tại Lò chợ giá xích M6-6A VM từ mức âm 230 đến mức âm 190 mét do Phân xưởng Khai thác 7 (Công ty Than Mông Dương) quản lý.

Theo chủ trương của Tập đoàn, Than Mông Dương đã đầu tư một lò chợ chống bằng giá khung xích theo dự án đầu tư thiết bị lò chợ giá thủy lực di động liên kết bằng xích, đã được lãnh đạo Tập đoàn thông qua. Việc sử dụng giá thủy lực di động liên kết xích phù hợp với điều kiện của mỏ Mông Dương. Từ năm 2021, lò chợ này đã cho ra than ổn định.

Ông Ngô Hoàng Ngân ghi nhận và biểu dương tinh thần thi đua lao động sản xuất của công nhân công ty, đồng thời yêu cầu từng người thợ cần nỗ lực bảo đảm tuyệt đối an toàn trong sản xuất, luôn coi an toàn lao động là nhiệm vụ hàng đầu, sản xuất phải an toàn, an toàn mới sản xuất.

"Thời gian tới, Than Mông Dương cần tiếp tục thực hiện tốt công tác an toàn vệ sinh lao động, vệ sinh công nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa, chuyển đổi số, đổi mới thiết bị, ứng dụng công nghệ chống lò bằng vì neo phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế để tăng năng suất và nâng cao mức độ an toàn", Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam Ngô Hoàng Ngân nhấn mạnh.

Để duy trì ổn định sản xuất, lãnh đạo Tập đoàn yêu cầu công ty rà soát, đề xuất bổ sung, điều chỉnh Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 phù hợp điều kiện sản xuất thực tế, tạo diện sản xuất cho năm 2027 và các năm tiếp theo. Đồng thời, tăng cường quản lý, tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật và tập đoàn đề ra; quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, chăm lo chế độ phúc lợi cho thợ lò và gia đình.