Tiềm năng lớn nhưng khai thác chưa tương xứng tại các hồ chứa miền Bắc
Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản ngày càng suy kiệt do thiên tai và dịch bệnh bất thường, việc phát huy lợi thế từ các hồ chứa vẫn chưa được coi là động lực mới để phát triển ngành thủy sản tại khu vực miền Bắc. Trước thực tế này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai vừa tổ chức Hội nghị phát triển nuôi trồng thủy sản các tỉnh phía Bắc năm 2026, đồng thời triển khai Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026-2030.
Không gian rộng lớn với diện tích mặt nước hàng trăm nghìn ha
Khu vực miền Bắc hiện sở hữu phần lớn các hồ chứa lớn của cả nước, bao gồm Hòa Bình, Sơn La, Thác Bà, Na Hang, Lai Châu… với tổng diện tích mặt nước lên đến hàng trăm nghìn ha. Các hồ lớn có diện tích trên 5.000ha chiếm tỷ trọng đáng kể và được xem là không gian trọng điểm để phát triển nuôi trồng thủy sản. Hiện nay, hình thức nuôi cá lồng, bè là chủ đạo tại các hồ chứa lớn miền Bắc, với tổng số hơn 22 nghìn lồng và sản lượng khoảng 50 nghìn tấn mỗi năm.
Về năng suất, nhiều mô hình thâm canh đạt mức cao so với các vùng khác, chẳng hạn như cá mè đạt khoảng 50kg/m³, trắm đen từ 30kg/m³ đến 35kg/m³, và cá lăng từ 25kg/m³ đến 30kg/m³. Nuôi trồng thủy sản hồ chứa đã trở thành sinh kế quan trọng cho nhiều địa phương, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân.
Thách thức trong quản lý và khai thác bền vững
Tuy nhiên, tiềm năng to lớn này vẫn chưa được khai thác một cách tương xứng. Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân nhận định: "Hoạt động phát triển thủy sản trên hồ chứa tại một số địa phương còn manh mún, thiếu tính tổng thể và mang tính tự phát. Công tác quản lý hoạt động trên lòng hồ chưa được quan tâm đầy đủ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự cũng như hiệu quả sản xuất."
Từ góc nhìn doanh nghiệp, bà Lương Thị Phương Thảo, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Nuôi trồng và Chế biến thủy sản Việt Nam, chia sẻ rằng việc thả cá đã giúp nguồn lợi trên hồ phục hồi rõ rệt. Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là công tác quản lý: "Quan trọng hơn việc thả cá là cách phối hợp với chính quyền, làm việc với người dân để bảo đảm cá sinh trưởng tốt và khai thác được bền vững." Theo bà Thảo, nhiều địa phương chưa tận dụng hiệu quả lợi thế do cơ chế quản lý chưa hoàn thiện và sự hạn chế trong tiếp cận pháp luật của người dân.
Công tác quản lý tổng hợp trên địa bàn các hồ lớn cũng phát sinh nhiều khó khăn. Ví dụ, hồ Thác Bà thuộc quản lý của 7 xã, đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục phối hợp kiểm tra, tuyên truyền, với những chuyến đi kéo dài 4-5 ngày dọc gần 80km lòng hồ. Doanh nghiệp đồng thời phải đầu tư lớn vào phương tiện và nhân lực để xử lý các vi phạm khai thác hủy diệt, đặc biệt là các phương tiện sử dụng xung điện có tốc độ cao và giá trị hàng trăm triệu đồng, rất khó kiểm soát.
Hướng đến phát triển bền vững thông qua liên kết và hoàn thiện cơ chế
Từ thực tiễn địa phương, ông Nguyễn Thái Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai, cho biết thủy sản, đặc biệt là nuôi trồng trên hồ chứa, được xác định là hướng đi có tiềm năng lớn. Lào Cai sở hữu hệ thống hồ chứa phong phú, nổi bật là hồ Thác Bà với hơn 19 nghìn ha mặt nước, sinh thái ổn định, phù hợp để phát triển nuôi cá lồng quy mô hàng hóa. Tỉnh đã chỉ đạo xây dựng các mô hình nuôi trồng theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị, góp phần tạo sinh kế và tăng thu nhập cho người dân.
Tuy nhiên, liên kết chuỗi còn lỏng lẻo, quy mô sản xuất phân tán, và ứng dụng công nghệ cao chưa đột phá. Với mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và người dân đang được triển khai, ông Bình đánh giá đây là cách làm mới và hiệu quả. Từ cộng đồng khai thác truyền thống sẽ hình thành các tổ quản lý cộng đồng - lực lượng trực tiếp phối hợp với doanh nghiệp trong tổ chức khai thác và bảo vệ nguồn lợi. Các tổ này được hưởng lợi theo cơ chế chia sẻ giữa doanh nghiệp và cộng đồng, đồng thời có kinh phí để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Ở góc độ quản lý ngành, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh: "Phát triển thủy sản hồ chứa phải gắn với quản lý tổng hợp tài nguyên nước." Không chỉ mở rộng diện tích hay tăng số lồng nuôi, mà cần có cách tiếp cận theo quy hoạch, kiểm soát chặt chẽ, và gắn kết với chuỗi giá trị. Do các hồ chứa phục vụ đa mục tiêu - bao gồm thủy điện, thủy lợi, cấp nước, và thủy sản - nên cần hài hòa lợi ích giữa người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương.
Thứ trưởng cho biết các vướng mắc pháp lý hiện còn tồn tại liên quan đến Luật Thủy lợi, quản lý tài nguyên nước, và an toàn thực phẩm. Giai đoạn 2026-2030 cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định để phát huy hiệu quả đa chức năng của hồ chứa. Cục Thủy sản được giao làm đầu mối phối hợp rà soát và hoàn thiện cơ chế quản lý.
Mục tiêu cụ thể của Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026-2030
Đề án đặt ra các mục tiêu quan trọng đến năm 2030:
- Đạt hơn 260 nghìn tấn sản lượng thủy sản.
- Tổng giá trị ước tính khoảng 16 nghìn tỷ đồng.
- Hơn 50% cơ sở nuôi tham gia hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc chuỗi liên kết.
- 100% cơ sở cập nhật dữ liệu trên hệ thống quốc gia về thủy sản.
Những nỗ lực này nhằm biến các hồ chứa miền Bắc thành động lực phát triển bền vững cho ngành thủy sản, đồng thời đảm bảo sinh kế ổn định cho cộng đồng địa phương trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm nguồn lợi tự nhiên.



