Cuộc chiến chống khai thác IUU tại cảng cá Quy Nhơn: Chuyển đổi số và kiểm soát chặt
Cuộc chiến chống khai thác IUU tại cảng cá Quy Nhơn

Khung cảnh nhộn nhịp tại cảng cá Quy Nhơn là biểu tượng cho sức sống của vùng biển miền Trung, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết: làm thế nào kiểm soát triệt để việc khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) nhằm đem lại sự minh bạch, bền vững cho nguồn lợi từ biển?

Tại cửa ngõ cảng cá Quy Nhơn, nơi mỗi năm đón khoảng 11.000 lượt tàu thuyền ra vào, những nỗ lực chấn chỉnh và kiểm soát tình trạng khai thác IUU đang diễn ra quyết liệt hơn bao giờ hết.

Cuộc chiến nơi cửa biển

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế thủy sản không thể tách rời việc tuân thủ các quy định quốc tế và chủ trương của Đảng, Nhà nước về chống khai thác IUU. Chỉ một sơ hở, nguy cơ thẻ vàng của Ủy ban châu Âu (EC) sẽ siết chặt hơn, khiến ngành thủy sản chịu thiệt hại nặng nề.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Năm 2025, tổng giá trị hàng hóa qua cảng Quy Nhơn vượt hơn 4.000 tỷ đồng, phục vụ sinh kế cho hơn 70.000 lao động. Nhưng con số ấy cũng tỷ lệ thuận với áp lực lên Ban Quản lý cảng cá: làm sao để mọi sản lượng đều minh bạch, mọi tàu thuyền tuân thủ, không để lọt bất kỳ trường hợp nào liên quan khai thác IUU?

Ông Nguyễn Anh Dũng, Phó Giám đốc Ban Quản lý cảng cá, cho biết: "Hiện nay, 100% tàu cập cảng Quy Nhơn phải khai báo trước một giờ, cập nhật đầy đủ lịch trình, giấy tờ thuyền viên và nhật ký khai thác lên phần mềm điện tử eCDT. Chỉ những hồ sơ tuân thủ mới được phép bốc dỡ, mua bán sản phẩm tại cảng."

Năm 2025, cảng Quy Nhơn đã tiếp nhận 11.290 lượt xuất bến và 10.893 lượt nhập bến; sản lượng đạt gần 30.400 tấn thủy sản các loại. Riêng ba tháng đầu năm 2026 đã có 3.773 lượt nhập và 3.785 lượt xuất bến, với tổng sản lượng 4.372 tấn. Tỷ lệ thu nộp nhật ký khai thác và đăng ký điện tử đạt tuyệt đối với nhóm tàu xa bờ, nhất là sau khi áp dụng eCDT.

Chuyển đổi số và kiểm soát chặt

Từ tháng 4/2024, Ban Quản lý cảng cá áp dụng phần mềm truy xuất nguồn gốc điện tử eCDT VN. Các thao tác khai báo qua eCDT vừa minh bạch, vừa triệt tiêu khả năng làm giả hay hợp thức hóa hồ sơ như trước. Ông Dũng nhấn mạnh: "Dữ liệu cập nhật trên máy nên không sửa được như ghi sổ tay, việc này đã giảm thiểu rủi ro."

Song song đó là các hoạt động kiểm tra hồ sơ pháp lý, truy xuất nguồn gốc, ứng dụng công nghệ giám sát hành trình (VMS). Bất kỳ tàu nào mất kết nối VMS đều bị rà soát, phối hợp cùng nhà mạng và lực lượng biên phòng xử lý triệt để.

Một lo ngại lớn là việc né cảng, bán cá ngoài thị trường tự phát để trốn khai báo. Tuy nhiên, ông Dũng khẳng định: "Tàu không đủ giấy tờ, không đăng ký, bị bắt buộc ở nhà, xã phường quản lý từng chiếc. Cán bộ biên phòng, địa phương giám sát liên tục. Bây giờ không có trường hợp nào phớt lờ quy định như cũ."

Thực tế cho thấy hệ quả của việc không khai báo: cá bán không đúng quy định bị doanh nghiệp trả giá rẻ vì không xác nhận được nguồn gốc xuất khẩu. Nhận thức của ngư dân đã thay đổi rõ rệt sau thời gian tuyên truyền, kiểm soát gắt gao.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Nỗ lực vì mục tiêu xuất khẩu bền vững, gỡ thẻ vàng

Bên cạnh chuyển đổi số, khó khăn lớn nhất của Ban Quản lý cảng cá là thiếu nhân lực. Mùa cao điểm, mỗi ngày đơn vị phải kiểm soát, hướng dẫn hàng trăm lượt tàu; áp lực lớn nhưng nhân sự mỏng. Ông Dũng bày tỏ: "Nếu eCDT hoàn thiện, khối lượng công việc sẽ giảm gần 50%, chúng tôi chỉ cần tập trung giám sát thực tế và tỷ lệ sai sót có thể giảm đến mức thấp nhất."

Ban Quản lý cảng cá kiến nghị tỉnh Gia Lai và ngành chức năng đầu tư máy móc, hệ thống camera AI kiểm soát phương tiện, lắp cân điện tử, hỗ trợ đào tạo nhân sự, tăng kinh phí duy tu hạ tầng cảng, nhằm tiệm cận chuẩn quốc tế về truy xuất nguồn gốc và kiểm soát IUU.

Chủ tàu Nguyễn Chí Thành (tàu BĐ-91277) từng ngán ngẩm vì quy trình khai báo rườm rà, nhưng nay đã thuần thục eCDT trên điện thoại: "Ban đầu tôi bỡ ngỡ, nhưng bây giờ chỉ thao tác mấy phút là xong. Làm đúng mình có quyền tự tin khi xuất bán, không sợ bị loại lô như xưa."

Chủ tàu Phan Thanh Trưởng (tàu BĐ-91052) cho biết việc được cán bộ hướng dẫn tận nơi, hỗ trợ thao tác phần mềm điện tử đã giúp ông và nhiều bà con yên tâm, chủ động hơn mỗi chuyến ra khơi. "Sinh kế ngư dân gắn liền với tuân thủ quy định. Làm tốt ở cảng này thì cập bến cảng khác cũng không lo, mọi nơi đều số hóa rồi," ông Trưởng nói.

Kết quả trên phản ánh sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của ngư dân. Khi quyền lợi gắn với trách nhiệm, việc tuân thủ khai báo, minh bạch nguồn gốc trở thành người bạn đồng hành, không còn là gánh nặng.

Dẫu chủ trương rõ ràng, hành động quyết liệt, quá trình chuyển mình của cảng cá Quy Nhơn vẫn còn gian nan: áp lực số lượng tàu tăng vọt mỗi mùa, nhân lực quản lý chưa đáp ứng kịp, công nghệ có lúc trục trặc, thiết bị VMS cũ dễ mất sóng. Tất cả đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng, liên tục đào tạo nâng cao kỹ năng cho cán bộ. Các kiến nghị về đầu tư hạ tầng, nâng cấp cơ sở vật chất, bổ sung nhân lực cần được quan tâm mạnh mẽ hơn từ cấp trên.

Kiểm soát nguồn gốc hải sản không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà còn là giấy thông hành chiến lược để Việt Nam giữ vững thị trường xuất khẩu, nhất là châu Âu. Bằng chuyển đổi số, siết chặt kiểm tra, tăng cường phối hợp liên ngành và nâng cao ý thức ngư dân, cảng cá Quy Nhơn đang góp phần quyết định vào thành công chung của ngành thủy sản trước thách thức hội nhập và phát triển bền vững.

Giám đốc Ban Quản lý cảng cá Đào Xuân Thiện chia sẻ: "Ban Quản lý cảng sẽ tiếp tục quản lý chặt chẽ tàu thuyền xuất nhập bến, phối hợp các đơn vị chức năng xử phạt nghiêm vi phạm, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin như nhật ký khai thác điện tử, eCDT, Vnfishbase, tổ chức tập huấn cho cán bộ, ngư dân, từng bước đưa hoạt động chống khai thác IUU vào nền nếp, tiến tới mục tiêu lớn nhất là gỡ thẻ vàng cho thủy sản Việt Nam."