Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm, xưởng thực hành và trung tâm nghiên cứu hiện đại với tổng mức 30 triệu USD, nhằm tạo nền tảng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.
Phòng thí nghiệm Kính hiển vi điện tử quét FESEM
Tại Phòng thí nghiệm Kính hiển vi điện tử quét, USTH sở hữu hệ thống kính hiển vi điện tử quét phát xạ trường (FESEM) hiện đại – thiết bị hiếm có tại các trường đại học ở Việt Nam. Thiết bị này cho phép quan sát bề mặt mẫu với cấu trúc siêu nhỏ ở kích thước chỉ vài chục nanomet, tích hợp đầu thu phổ tán xạ năng lượng tia X (EDS) để phân tích chi tiết thành phần nguyên tố hóa học. FESEM phục vụ hầu hết ngành học tại trường, từ khoa học vật liệu, hóa học, sinh học đến kỹ thuật hàng không vũ trụ.
Sinh viên từ năm thứ ba bắt đầu tiếp cận thiết bị này sau khi nắm vững lý thuyết. Các em được theo dõi giảng viên thao tác, làm quen với cách chuẩn bị mẫu, đo đạc và phân tích dữ liệu. Đối với sinh viên nghiên cứu sâu, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên, các em có thể tự vận hành máy.
Phòng thí nghiệm Hàng không đầu tư 1,1 triệu USD
Phòng thí nghiệm Hàng không của USTH được đầu tư 1,1 triệu USD (gần 29 tỷ đồng), với máy móc và thiết bị đạt chuẩn các trường đào tạo hàng không quốc tế. Nhật Minh, sinh viên năm 2 ngành Kỹ thuật hàng không, cho biết em bắt đầu lên phòng thí nghiệm này ngay từ năm nhất, được tiếp cận kiến thức nền tảng về động cơ, khí động lực học, vật liệu và hệ thống điện tử hàng không.
Đào tạo Khoa học Vũ trụ và Công nghệ Vệ tinh
USTH là một trong số ít trường đại học tại Việt Nam đào tạo ngành Khoa học Vũ trụ và Công nghệ Vệ tinh theo ba hướng: Vật lý thiên văn, Viễn thám và Mô hình hóa trái đất, Công nghệ Vệ tinh. Tại phòng thí nghiệm thực hành của Khoa Khoa học Vũ trụ và Trái đất, sinh viên và học viên tham gia các đề tài nghiên cứu về quan trắc trái đất, thiết kế vệ tinh nhân tạo và thiết bị quan sát thiên văn. Các em trực tiếp thực hành với máy đo phổ độ phân giải cao, máy bay không người lái mang máy ảnh siêu phổ, máy quét laser, máy đo tốc độ ánh sáng, mô hình động vệ tinh nhân tạo, thực hành đo đạc và quan trắc các vì sao.
Thiết bị phân tích cao cấp: Sắc ký lỏng siêu hiệu năng QTOF
Hệ thống sắc ký lỏng siêu hiệu năng kết nối khối phổ QTOF là một trong những thiết bị phân tích cao cấp tại USTH, phục vụ nghiên cứu chuyên sâu về khoa học sự sống, y dược, môi trường. Thiết bị cho phép phân tích, định danh và định lượng chính xác các hợp chất phức tạp chỉ trong một lần chạy mẫu, phát hiện các chất cần kiểm soát, độc tố, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh hay các hợp chất chưa biết với độ chính xác cao, đồng thời hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu và kiểm nghiệm.
Phòng Quang học - quang phổ Raman
Phòng thiết bị Quang học - quang phổ của USTH trang bị hệ thống máy quang phổ Raman hiện đại, có khả năng phân tích cấu trúc và thành phần phân tử của vật liệu dựa trên tương tác giữa ánh sáng laser và vật chất. Để đảm bảo độ chính xác và hạn chế nhiễu quang học, phòng được duy trì trong điều kiện ánh sáng thấp khi vận hành, giúp thu nhận chính xác các tín hiệu tán xạ rất yếu từ mẫu nghiên cứu.
Tổng quan đầu tư và chương trình đào tạo
USTH là trường đại học công lập, thành lập năm 2009 trong khuôn khổ Hiệp định liên Chính phủ Việt Nam - Pháp. Năm 2023, trường đạt chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn châu Âu HCERES. Hiện trường đào tạo 17 ngành học về khoa học và công nghệ.
Trao đổi với Tri Thức - Znews, PGS.TS Nguyễn Hải Đăng, Phó hiệu trưởng USTH, cho biết nhà trường có hai nhóm phòng thí nghiệm: thực hành và nghiên cứu, với tổng mức đầu tư 30 triệu USD (khoảng 790 tỷ đồng) từ nguồn vốn ADB. Riêng nhóm phòng thí nghiệm thực hành gồm 42 phòng, phân bố đều cho các khoa, kinh phí khoảng 485 tỷ đồng. Nhóm ngành công nghệ, kỹ thuật có các phòng thí nghiệm về cơ điện tử, kỹ thuật ôtô, điện, tự động hóa. Nhóm công nghệ thông tin chủ yếu là các phòng máy tính cấu hình cao. Nhóm khoa học sự sống có phòng thí nghiệm về công nghệ sinh học, dược, công nghệ thực phẩm.
Đa số chương trình tại USTH được đào tạo trong 3 năm, với thời lượng thực hành chiếm 40%. Theo ông Đăng, lợi thế lớn của trường là sự phối hợp đầu tư từ chuyên gia và đối tác Pháp, giúp hệ thống phòng thí nghiệm đồng bộ và hiện đại. Việc sớm tiếp cận máy móc thế hệ mới, tương đồng với môi trường doanh nghiệp, giúp sinh viên nắm bắt nhanh công nghệ mới và thích ứng với môi trường làm việc thực tế sau khi ra trường.



