Theo Thông tư 11/2026, Bộ Y tế đã công bố danh mục 137 bệnh và hội chứng được phép thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi nhằm phục vụ cho công tác chẩn đoán và điều trị. Danh mục này được quy định chi tiết tại khoản 3 điều 6 của Luật Dân số, bao gồm các bệnh liên quan đến gen, bất thường nhiễm sắc thể, bệnh bẩm sinh và các rối loạn phát triển giới tính.
Mục đích của danh mục bệnh
Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở khám chữa bệnh chỉ được thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi khi thuộc danh mục quy định. Trước và sau khi thực hiện các dịch vụ kỹ thuật, nhân viên y tế phải tư vấn cho đối tượng về phạm vi, ý nghĩa, giới hạn của dịch vụ cũng như khả năng không phát hiện được một số bệnh trong quá trình xét nghiệm.
Danh mục 137 bệnh bao gồm các bệnh, tật, hội chứng di truyền hoặc bẩm sinh có liên quan đến nhiễm sắc thể giới tính hoặc gen ảnh hưởng đến quá trình xác định và phát triển giới tính. Việc xác định giới tính thai nhi có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán, tiên lượng, điều trị hoặc dự phòng bệnh. Cụ thể, danh mục bao gồm các bệnh di truyền liên kết giới tính (nhóm bệnh lý do biến thể gen nằm trên nhiễm sắc thể giới tính) và rối loạn phát triển giới tính (các tình trạng bẩm sinh gây ra sự phát triển giới tính không điển hình do bất thường của nhiễm sắc thể giới tính, tuyến sinh dục hoặc bộ phận sinh dục).
Xử phạt hành vi vi phạm lựa chọn giới tính thai nhi
Theo Nghị định số 90/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, từ ngày 15 tháng 5, các hành vi vi phạm về lựa chọn giới tính thai nhi sẽ bị xử phạt với mức phạt lên đến 30 triệu đồng. Các quy định này nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.
Các mức phạt cụ thể
- Phạt tiền từ 7 đến 15 triệu đồng đối với hành vi đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần để ép buộc người khác áp dụng phương pháp nhằm có được giới tính thai nhi theo ý muốn.
- Phạt tiền từ 15 đến 20 triệu đồng đối với hành vi dùng vũ lực ép buộc người khác phải áp dụng phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn.
- Phạt tiền từ 20 đến 25 triệu đồng đối với các hành vi: chỉ định, hướng dẫn sử dụng, cung cấp thuốc và các loại chế phẩm tác động vào quá trình thụ thai để có được giới tính thai nhi theo ý muốn; nghiên cứu các phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn, trừ trường hợp pháp luật cho phép. Hình thức xử phạt bổ sung: đình chỉ hoạt động của cơ sở từ 1 đến 3 tháng; tước quyền sử dụng giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh từ 1 đến 3 tháng.
- Phạt tiền từ 7 đến 10 triệu đồng đối với hành vi dụ dỗ, lôi kéo người mang thai loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.
- Phạt tiền từ 10 đến 15 triệu đồng đối với hành vi uy hiếp tinh thần để ép buộc người mang thai loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.
- Phạt tiền từ 15 đến 20 triệu đồng đối với hành vi dùng vũ lực để ép buộc người mang thai phải loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.
- Phạt tiền từ 20 đến 25 triệu đồng đối với hành vi cung cấp hóa chất, thuốc để loại bỏ thai nhi mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.
- Phạt tiền từ 25 đến 30 triệu đồng đối với hành vi phá thai mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính. Hình phạt bổ sung: tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động, giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề từ 3 đến 6 tháng hoặc từ 6 đến 12 tháng.
- Phạt tiền từ 5 đến 7 triệu đồng đối với hành vi bói toán để xác định giới tính thai nhi.
- Phạt tiền từ 7 đến 15 triệu đồng đối với hành vi bắt mạch, siêu âm hoặc xét nghiệm cho người đang mang thai để chẩn đoán và tiết lộ, cung cấp thông tin về giới tính thai nhi (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác); đồng thời tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động, giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề trong thời hạn từ 1 đến 3 tháng.
Người đứng đầu cơ sở khám chữa bệnh phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật nếu để xảy ra việc thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi không vì mục đích chẩn đoán, điều trị hoặc ngoài phạm vi quy định.



