Tối 23.4, tổ chức Times Higher Education (THE) tại Anh đã chính thức công bố bảng xếp hạng các trường đại học tốt nhất châu Á năm 2026. Đây là lần đầu tiên có tới 11 trường đại học Việt Nam góp mặt trong danh sách này, tăng 2 trường so với năm ngoái. Theo thống kê của báo Thanh Niên, kể từ khi Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong bảng xếp hạng này từ năm 2020, đây cũng là lần đầu tiên số lượng trường Việt Nam vượt mốc 10.
Xu hướng tụt hạng phổ biến
Tuy nhiên, hầu hết các trường đều có xu hướng chung là tụt hạng. Chỉ có hai trường giữ nguyên thứ hạng so với năm trước là Đại học Duy Tân tại Đà Nẵng (nhóm 251-300) và Trường Đại học Y Hà Nội (nhóm 401-500), cùng với Đại học Quốc gia TP.HCM (nhóm 601-800). Trong khi đó, Đại học Kinh tế TP.HCM dù vẫn giữ vị trí số 1 tại Việt Nam nhưng đã rơi 48 bậc, xuống vị trí thứ 184, đồng hạng với Đại học Công nghệ Nam Kinh (Trung Quốc) trong số 929 cơ sở giáo dục đại học trên toàn châu Á được xếp hạng.
Trường Đại học Tôn Đức Thắng tại TP.HCM cũng trượt từ nhóm 201-250 xuống nhóm 251-300, tiếp tục đà giảm kể từ khi xuất hiện trong bảng xếp hạng: từ vị trí 73 (năm 2022) xuống 86 (năm 2023), rồi 193 (năm 2024). Đây là lần đầu tiên Trường Đại học Tôn Đức Thắng và Đại học Duy Tân cùng chung thứ hạng và đều giữ vị trí số 2 tại Việt Nam. Trường Đại học Y Hà Nội xếp thứ 4, trong khi gương mặt mới là Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (TP.HCM) ra mắt ở nhóm 501-600.
Cả ba cơ sở giáo dục đại học là Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Mở TP.HCM đồng loạt tụt từ nhóm 501-600 xuống nhóm 601-800. Tương tự, Đại học Huế xuống nhóm 801+, đồng hạng với một đại diện mới khác từ Việt Nam là Đại học Đà Nẵng. Riêng Trường Đại học Văn Lang (TP.HCM) năm ngoái ở trạng thái "reporter" (có nộp dữ liệu nhưng chưa được xếp hạng vì chưa đạt một số tiêu chí nhất định) thì năm nay đã không còn hiện diện trong bảng xếp hạng. Trước đó hai năm, Trường Đại học Mở TP.HCM cũng từng mang trạng thái này và đã vào tốp trong năm 2025.
Tiêu chí xếp hạng của THE
Để xếp hạng các trường đại học trên toàn châu Á, THE sử dụng tổng cộng 17 tiêu chí, chia làm 5 nhóm: chất lượng nghiên cứu (chiếm 30% tổng điểm), môi trường nghiên cứu (28%), giảng dạy (24,5%), chuyển giao công nghệ (10%) và triển vọng quốc tế (7,5%). Phương pháp xếp hạng này tương tự cách THE đánh giá các trường đại học trên toàn thế giới, nhưng một số tiêu chí đã được điều chỉnh trọng số để phản ánh yếu tố đặc thù của châu Á.
Điểm mạnh và điểm yếu của các trường Việt Nam
Điểm chung của các trường Việt Nam là đạt điểm cao về chất lượng nghiên cứu nhưng môi trường nghiên cứu lại có kết quả chênh lệch đáng kể. Ví dụ, Đại học Kinh tế TP.HCM đạt 88,6/100 điểm chất lượng nghiên cứu, song môi trường nghiên cứu chỉ bằng 1/3, ở mức 26,6. Tương tự, mức chênh lệch này ở Đại học Duy Tân và Trường Đại học Tôn Đức Thắng lần lượt là 87,8-20,5 (gấp 4 lần) và 82,5-14,8 (gấp 5 lần).
Nếu xét riêng tiêu chí chất lượng nghiên cứu, giữa ba trường nêu trên với nhóm các trường còn lại cũng có sự chênh lệch đáng kể. Cụ thể, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành có số điểm cao thứ 4 nhưng cách Trường Đại học Tôn Đức Thắng cao thứ 3 tới 20,5 điểm, còn Đại học Huế có số điểm thấp nhất (19,5) thì cách trường cao nhất là Đại học Kinh tế TP.HCM tới 69,1 điểm. Tuy nhiên, ở môi trường nghiên cứu, các trường không quá cách biệt, dao động từ 11,2 đến 26,6 điểm.
Điều tương tự diễn ra ở tiêu chí giảng dạy, với số điểm dao động từ 12,1 (Trường Đại học Mở TP.HCM) tới 38,3 (Trường Đại học Y Hà Nội). Về chuyển giao công nghệ, Đại học Bách khoa Hà Nội tiếp tục dẫn đầu Việt Nam với 66,1 điểm, theo sau là Đại học Kinh tế TP.HCM (50,1) và Trường Đại học Y Hà Nội (44,8). Còn ở triển vọng quốc tế, Tôn Đức Thắng, Duy Tân, Kinh tế TP.HCM lần lượt là ba cái tên đứng đầu, với mức điểm 63, 55,2 và 53,6.
Bối cảnh châu Á
Năm nay, THE xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học từ 36 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á, tăng 1 so với năm ngoái. Số lượng trường được xếp hạng cũng tăng thêm 76. Trong đó, Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh ở Trung Quốc tiếp tục duy trì vị trí nhất, nhì châu Á sau 6 năm. Những trường còn lại trong tốp 10 là các đại diện khác của Trung Quốc đại lục (3 trường), Hồng Kông, Singapore (mỗi nơi 2 trường) và Nhật Bản (1).
Tính riêng số trường được xếp hạng, Ấn Độ dẫn đầu với tổng cộng 128 cơ sở giáo dục đại học, theo sau là Nhật Bản (115), Thổ Nhĩ Kỳ (109). Trong khi đó, số lượng các trường được xếp hạng của Việt Nam ít hơn một số nước trong khu vực như Indonesia (35), Malaysia (27) và Thái Lan (21), song cao hơn Philippines (6), Brunei và Singapore (cùng có 2 đại diện).
THE là một trong những tổ chức xếp hạng đại học có uy tín, nhiều năm kinh nghiệm và sức ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu bên cạnh bảng xếp hạng của Quacquarelli Symonds (Anh) và ShanghaiRanking Consultancy (Trung Quốc). Đơn vị này bắt đầu xếp hạng các trường đại học từ năm 2004 cùng Quacquarelli Symonds, một năm sau khi thế giới lần đầu tiên có bảng xếp hạng đại học toàn cầu do Đại học Giao thông Thượng Hải (sau này là ShanghaiRanking Consultancy) công bố.



