Phát hiện ấn bản Kim Cang Kinh Chú Giải quý hiếm tại chùa Quốc Ân, Huế
Ấn bản Kim Cang Kinh Chú Giải quý hiếm tại chùa Quốc Ân

Ngoài Kinh Pháp Hoa trọn bộ 8 cuốn được ấn tống cách đây 295 năm mà báo Thanh Niên từng giới thiệu, còn có nhiều kinh sách quý hiếm khác. Đặc biệt, một tư liệu quý giá được giới nghiên cứu kinh văn Đại thừa xem như phát hiện quan trọng là ấn bản Kim Cang Kinh Chú Giải hiện đang lưu trữ tại chùa Quốc Ân, Huế.

Khám phá ấn bản Kim Cang Kinh Chú Giải

Thầy Thích Bảo Định cùng các bậc cao tăng đang nghiên cứu Kim Cang Kinh Chú Giải tại Tổ đình Quốc Ân. Theo thầy Thích Bảo Định, đoàn sưu khảo kinh sách Hán Nôm của Thư viện Huệ Quang (TP.HCM) đang làm việc tại tổ đình Quốc Ân cho biết tổng quan về ấn phẩm này, còn được gọi là Kim Cang Ngũ Thập Tam Gia Chú Giải - bản chú giải Kinh Kim Cang của 53 vị danh tăng, thánh hiền. Niên đại khắc ghi là Bảo Đại tháng 10 năm Tân Mùi (1931) khởi công và hoàn thành vào tháng 4 năm Nhâm Thân (1932). Quy mô ấn bản gồm 104 tấm khắc hai mặt và 46 tấm khắc một mặt, tổng cộng 150 phiến với 254 mặt giấy, chuyển tải 80.800 chữ Hán.

Người khởi xướng và quá trình thực hiện

Dựa trên lời bình của Lạc Viên Tôn Thất Huyền và bài tựa trùng san của Hộ bộ Tả Thị lang Nguyễn Cao Tiêu, có thể biết người khởi xướng việc san khắc là Hàn lâm viện Thị giảng Đặng Như Bá (Vĩnh An cư sĩ). Trước đó, ông đã phát nguyện in 100 bộ Kinh Kim Cang nhưng e ngại nghĩa lý thâm huyền khó thấu triệt nếu không có chỉ dẫn. Có sẵn trong nhà bản Kim Cang Ngũ Thập Tam Gia gồm 4 quyển với lời giảng giải tường minh, ông ấp ủ tâm nguyện san khắc để quảng kết thiện duyên từ lâu nhưng chưa thực hiện được vì cần nhiều nhân lực và vật lực. Đến lễ Phật Đản ngày rằm tháng 4 năm 1931 tại Hàn Dưỡng tinh xá, ông kêu gọi và quyên góp được hơn 300 viên tiền. Tháng 10 năm đó, ông về kinh đô Thuận Hóa chọn gỗ và tìm thợ giỏi, cuối cùng mời Phan Thế Khang tại Cục Tập Thiện ấp Tả Chí phường Đệ Lục phụ trách san khắc và in ấn. Tổng chi phí khi hoàn thành lên đến hơn 500 viên tiền.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Giá trị hiệu đính và sự tham gia của giới tinh hoa

Một trong những phát hiện thú vị nhất khi khảo cứu bản khắc Kim Cang Kinh Chú Giải là nó không phải bản sao chép rập khuôn. Đây là công trình có sự đầu tư nghiêm túc về mặt hiệu đính. Cư sĩ Đặng Như Bá không chỉ cho khắc lại bản cũ mà cùng gia đình tiến hành đối soát, chỉnh sửa sai sót. Ông còn mời các bậc trí thức khác như Hoàng thúc Tôn Thất Trứ, cư sĩ Huệ An, Tống Phúc, Trương Thái Trạch... cùng góp sức khảo chánh và hiệu tập. Khi san khắc bản chú giải, ông cung thỉnh những bậc tôn túc làm chứng san và hộ niệm như: Tăng cang Huệ Giác (chùa Linh Mụ), trụ trì Thiện Quả (chùa Chúc Thánh), hòa thượng Phước Hậu (chùa Linh Quang), hòa thượng Giác Viên (chùa Hồng Khê), hòa thượng Tịnh Phổ (chùa Bảo Vân). Sau khi hoàn thành in ấn, ông dâng lên cho tầng lớp quan viên duyệt đọc và viết lời bình. Đứng đầu là Hợp tá Đại học sĩ Tôn Thất Huyền (Lạc Viên) đề lời bình. Cùng tham gia duyệt đọc có các vị Thượng thư bộ Công, bộ Hình, Thống chế chí sự như Lê Viết Nghiêm. Đáng chú ý có sự hiện diện của Tâm Minh Lê Đình Thám - nhân vật kiệt xuất của phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, cùng các vị như Nguyễn Khoa Tân, Tống Phúc Trương... Danh sách những người tham gia từ khâu hiệu đính, chứng san đến duyệt đọc không chỉ là những cái tên trên giấy, mà là minh chứng cho sự đồng lòng của giới tinh hoa trí thức và các bậc cao tăng.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Giá trị văn bản học và di sản văn hóa

Qua khảo sát phần tựa và hậu bạt, phát hiện chi tiết văn bản học quan trọng: cuối sách có bài bạt viết năm Khang Hy Quý Sửu (1673), đồng thời văn bản lưu lại bài tựa cũ từ năm Vĩnh Lạc Quý Mão (1423) của Minh Thành Tổ. Do đó, nhiều khả năng bản khắc năm 1931 tại Huế đã sử dụng bản trùng san năm 1673 làm bản đáy. Xa hơn nữa, bản năm 1673 lại có gốc tích từ bản in triều Minh năm 1423. Điều này khẳng định tính kế thừa và sự chuẩn xác về văn bản học của ấn bản Bảo Đại. Ấn bản Kim Cang Kinh Chú Giải không chỉ là tạo tác tôn giáo mà còn là di sản văn hóa, minh chứng cho trình độ khắc in điêu luyện của nghệ nhân xứ Huế và sự hộ trì Phật pháp mạnh mẽ của giới trí thức, quan lại triều Nguyễn vào đầu thế kỷ XX.