Nguyễn Khuyến: 7 lần thi trượt trước khi đỗ tiến sĩ và cuộc đời ẩn dật
Nguyễn Khuyến: 7 lần trượt thi, đỗ tiến sĩ, cáo hưu năm 50 tuổi

Thi hào Nguyễn Khuyến, tên hồi nhỏ là Thắng, sinh ngày 15/2/1835, mất ngày 5/2/1909, từng trượt liền bốn khoa thi Hương (1852, 1855, 1858, 1861) và ba khoa thi Hội (1865, 1868, 1869) – tổng cộng 7 lần thất bại trước khi đỗ đạt vinh quang. Theo thông tin trên Tạp chí Người Hà Nội online, quê mẹ ông ở Ý Yên, Nam Định cũ, quê cha là làng Và (Vị Hạ), Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Sau gần 20 năm theo đuổi khoa cử, ông đỗ đầu kỳ thi Hương (Giải nguyên) năm 1864, thi Hội (Hội nguyên) và thi Đình (Đình nguyên) năm 1871. Theo hệ thống học vị triều Nguyễn, thi Đình đỗ gọi chung là Tiến sĩ; thủ khoa gọi là Đình nguyên.

Chuyện đổi tên vì thi trượt

Theo ghi chép trong Kể chuyện danh nhân Việt Nam, chuyện đổi tên từ Nguyễn Thắng thành Nguyễn Khuyến bắt nguồn từ việc thi trượt. Sau khi thi Hội không đỗ, Nguyễn Thắng buồn phiền, nhận ra cảnh nhà túng bấn phải chạy vạy lo toan cuộc sống nên không đủ thời gian học, cùng với sự mệt mỏi sau những lúc vật lộn kiếm ăn khiến nỗ lực chưa cao. Ông viết đi viết lại tên mình và thấy chữ Thắng có chữ "lực" nhỏ (tiểu lực). Cho rằng tiểu lực thì không thể đỗ, ông tìm chữ có "đại lực" và thấy chữ "Khuyến". Từ đó ông quyết đổi tên thành Nguyễn Khuyến, quyết chí nỗ lực học tập cho thành đạt.

Cáo hưu ở tuổi 50

Năm 1884, ở tuổi 50, Nguyễn Khuyến quyết định cáo hưu. Lý do chính, theo nhiều nhà nghiên cứu, là sự bất lực trước cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm chiếm và triều đình đầu hàng. Ông sống trong giai đoạn lịch sử đầy biến động, nhận rõ sự bất lực của triều đình và những mâu thuẫn trong lòng người trí thức yêu nước. Trong bài thơ Di chúc, điều đầu tiên ông muốn con cháu ghi lại trên bia mộ là: "Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu". Quyết định từ bỏ quyền lực và danh vọng được đánh giá là biểu hiện của khí tiết và nhân cách của một trí thức chân chính. Trong những năm ở ẩn, ông tiếp tục lên tiếng chống thực dân bằng thơ ca đậm tinh thần yêu nước.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Bộ ba thơ thu đỉnh cao

Ba bài thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Khuyến về mùa thu gồm: Thu điếu (Câu cá mùa thu), Thu vịnh (Vịnh mùa thu) và Thu ẩm (Uống rượu mùa thu). Đây được xem là những tác phẩm tiêu biểu nhất viết về mùa thu của văn học Việt Nam, khắc họa vẻ đẹp thanh bình của làng quê Bắc Bộ bằng ngôn ngữ giản dị nhưng tinh tế. Nhà thơ Xuân Diệu từng gọi Nguyễn Khuyến là "nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam".

Phong cách sáng tác độc đáo

Thi hào Nguyễn Khuyến sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, để lại khoảng 800 tác phẩm, gồm thơ, câu đối, hát nói. Điểm nổi bật trong phong cách của ông là đưa ngôn ngữ đời thường, lời ăn tiếng nói hằng ngày vào thơ Đường luật vốn mang tính bác học, tạo nên phong vị rất riêng. Sau khi cáo quan về quê, thơ Nguyễn Khuyến càng đậm chất trữ tình, phản ánh cuộc sống nông thôn, tình làng nghĩa xóm, đồng thời bộc lộ nỗi đau trước cảnh nước mất, dân khổ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chính 25 năm cuối đời ở quê đã tạo nên những tác phẩm sâu sắc và thâm trầm nhất của ông.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình