Nhà văn Y Ban: 'Ai dạy chị viết văn?' - Hành trình từ tuổi thơ sơ tán đến văn đàn
Nhà văn Y Ban hẹn tôi ở một quán cà phê ven sông Hồng gần nhà chị. Đúng giờ, chị phi xe máy đến, đội chiếc mũ vải rằn ri, đeo kính râm, mặc quần jeans và đi một đôi giày da lộn màu cỏ úa. Chủ quán hỏi chị uống gì, chị đáp "như mọi khi". Tôi hỏi: "Chị đến với văn chương cùng nghề viết như thế nào, ai đã dạy chị viết văn, thưa chị?". Và nhà văn Y Ban bắt đầu câu chuyện.
Tuổi thơ sơ tán và những ký ức làng quê
Nhà văn Y Ban sinh năm 1961, trong thời kỳ đất nước đang chiến tranh nhưng hào hùng. Với riêng chị, đó là những cuộc sơ tán về làng. Bố chị là một y tá, đã chủng đậu cho chị vào mắt cá chân thay vì bắp vai để tránh vết sẹo, hy vọng con gái lớn lên xinh đẹp và dịu dàng. Chị tốt nghiệp phổ thông, học đại học ngành sinh học, theo nghề y, nhưng rồi lại bỏ hết để theo nghiệp văn chương.
Ông sốc và buồn lắm, nói: "Nhà tao năm đời nhưng chả ai lại theo nghề mõ như mày. Bố đã cho mày theo học một ngành rất là tử tế, thế mà cuối cùng mày lại thành mõ ư con?". Sau này, chị hiểu ông hơn, biết không hẳn như lời than vãn mà bởi ông lo lắng cho con gái, vì theo đuổi văn chương thì tương lai mù mịt, trong khi chị đang là giảng viên trường y với tương lai đảm bảo.
Bố mẹ chị lấy nhau khi cùng làm việc cho Bệnh xá thị trấn Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định cũ. Đến năm 1965, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, chị bắt đầu hành trình sơ tán về làng xã, ở nhờ hết nhà này đến nhà khác. Chị nhớ nhất là ngôi nhà to của cô chú Am xã Nghĩa Thái, gọi là "ngôi nhà ở nhờ hạnh phúc", nơi hình thành những cảm xúc và câu chuyện ấu thơ.
Căn nhà rộng có thềm nhiều bậc cao, đêm đêm bố chị tháo cánh cửa lùa, ngồi trên bậc thềm kể chuyện cổ tích. Bệnh xá mẹ chị làm cách nhà chừng một cây số, buổi trưa nào mẹ cũng về nấu cơm, bới tóc bắt chấy cho chị, và chị ngủ thiếp đi trong những giấc mơ.
Những trải nghiệm đầu đời và tình yêu văn chương
Chuyện đi học cũng mang tính chất "sơ tán" lỗ mỗ tạm bợ, dù các bạn cùng lớp đông và vui. Chị đi học ở một làng sơ tán, vào lớp vỡ lòng lúc 5 tuổi vì bố bảo con gái phát triển sinh lý sớm, đi học muộn thì đến tuổi mười sáu, mười bảy yêu đương, không đi học lên được nữa.
Cô giáo đầu đời của chị hiền lắm, nhưng bị gù - cô Tiên "gù". Chị còn nhỏ nhưng bị ám ảnh, làm phụ nữ đã khổ rồi mà cô giáo còn bị tật nguyền. Chị lang thang trong làng, thấy thêm gác chuông và tháp nhà thờ, lớp học ở trong đình làng, cùng những cánh đồng lúa bát ngát đẹp vô cùng.
Vào những ngày mưa, chị ngồi ngoài thềm cho mưa hắt ướt đẫm người, gào lên khóc cười không dứt. Cái sân lát gạch thường để phơi thóc nay những bong bóng nước đuổi nhau trên mặt sân như trong ca dao: "Giời mưa bong bóng phập phồng…" làm thành nỗi buồn đầu đời ngân vọng. Rồi mặt sân gạch lại đỏ như son khi mưa tạnh.
Chị còn phi ra đường, đi một mình lang thang, cỏ cây mọc dại xen giữa những phiến đá xếp thành con đường làng và những tàu lá chuối ven đường sau mưa như được tắm gội, nhất là khi nắng lên thì cỏ cây nhất loạt trỗi dậy, lá chuối ánh lên bóng loáng một màu xanh tươi mới như đang cười. Rồi chị ra lội ruộng, gào lên vừa cười vừa khóc.
Tủ sách đầu đời và sự hình thành tâm hồn viết
Từ nhỏ, chị đã là người thích đọc, ham đọc. Từ văn chương, chị đọc thơ Nguyễn Bính, có câu "Bắt đầu là cái thắt lưng xanh…" thì hiểu nó như tầm nhìn cánh đồng quê vào ngày mồng 1 Tết. Vì mẹ dạy không được đi đến nhà ai cả, nên một mình chị đi ra ngoài cánh đồng, thấy cả một cánh đồng quê ngày xuân bát ngát màu xanh lúa non, đẹp vô cùng.
Năm 1970, bố chị - một người đàn ông rất lãng mạn - nói vì tương lai con gái, nên lên thành phố học hành thì tốt hơn. Thế là nhà chị chuyển từ Nghĩa Hưng lên thành phố Nam Định. Cuối năm 1972 khi miền Bắc hết "bom rơi, đạn nổ", nhà chị có tiêu chuẩn do bố đi chiến trường, được phân về ở khu tập thể bệnh viện thành phố.
Bên cạnh nhà là gian phòng của một ông bác sĩ có tủ sách để ở đầu giường, cao và dài, chứa rất nhiều sách. Ông quý sách không cho ai động vào nhưng lại rất quý chị. Và chị được thâm nhập vào tủ sách của ông, chỉ đọc ngay đấy không được mang về. "Đi-tê con của người đời", "Tấm lòng vàng", Victor Hugo, "Anna Karenina", "Thép đã tôi thế đấy", "Dấu chân người lính"... kiến tạo phần viết trong tâm hồn chị.
Nó mở ra một thế giới đẹp khủng khiếp. Nhưng cạnh đó, tham gia kiến tạo nên tâm hồn chị còn là tất cả những loại sách rơi vào tay, ví dụ như "Đồi thông hai mộ", "Vụ án thành Paris"... được chuyển bí mật từ cặp sách đứa nọ sang cặp sách đứa kia.
Tiếng nói nữ quyền trong các tác phẩm
Tiến sĩ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, nhận định: "Dưới góc nhìn xã hội học, tiếng nói nữ quyền trong văn chương của Y Ban nằm ở chỗ chị buộc xã hội phải đối diện một câu hỏi rất căn bản: vì sao cùng là con người, cùng có ham muốn, khát vọng và năng lực sống, nhưng phụ nữ và nam giới lại bị đánh giá qua những hệ giá trị hoàn toàn khác nhau?".
Ham muốn của đàn ông được xem là biểu hiện của bản lĩnh, của nam tính. Bất chấp ngoại hình hay đạo đức, đàn ông vẫn "được quà": được lựa chọn, được bao dung, được xã hội thừa nhận. Ngược lại, khi phụ nữ ý thức được và theo đuổi ham muốn, họ lập tức bị đặt vào vị thế phải biện minh, phải xấu hổ, thậm chí bị kết án về mặt đạo đức: đàn bà ham muốn thì bị coi là đàn bà hư.
Các tác phẩm như I am đàn bà, Người đàn bà có ma lực, Đàn bà xấu thì không có quà hay Bức thư gửi mẹ Âu Cơ không nhằm cổ súy cho sự buông thả, mà phơi bày cơ chế đạo đức hóa và vật thể hóa phụ nữ. Thân thể nữ bị giám sát, ham muốn nữ bị kiểm soát, còn giá trị của phụ nữ thì bị quy đổi chủ yếu qua ngoại hình và sức hấp dẫn.
"Y Ban không viết để gây sốc, mà để chỉ ra một bất công mang tính cấu trúc trong quan hệ giới: phụ nữ không chỉ bị trừng phạt vì ham muốn, mà còn vì dám coi ham muốn của mình là chính đáng", TS Hồng nhận xét.
Trong khi đó, Tiến sĩ Xã hội học Nguyễn Thị Thu Hoài, giảng viên Khoa Công tác xã hội - Học viện Phụ nữ Việt Nam, nhận định: "Chị Y Ban đã 'cho' phụ nữ trong các tác phẩm của chị rất nhiều quyền, quyền được 'chạm' đến những vùng mà người ta cho là cấm kỵ như dục vọng, nhu cầu tình dục của phụ nữ, quyền được mệt mỏi, được khó chịu và quyền được là người phụ nữ không hoàn hảo… Nói theo lời lẽ chuyên môn: Đóng góp lớn nhất của chị Y Ban là đã mở rộng không gian diễn ngôn cho phụ nữ".
Thành công với 'Trên đỉnh giời' và các giải thưởng
Với tập Trên đỉnh giời, nhà văn Y Ban nhận liên tiếp Giải thưởng từ Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Văn học ASEAN. Mới nhất, tác phẩm lọt vào Đề cử Giải thưởng Sách Quốc gia lần VIII. Năm 2024-2025, chị cùng nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế được vinh danh tại lễ trao Giải thưởng văn học Đông Nam Á tại Bangkok, Thái Lan.
Nhà văn Y Ban kết luận: "Ai dạy mày như thế? Trời đấy. Đất đấy. Những câu chuyện cổ tích của cha, những câu chuyện luân thường đạo lý và cả những lời răn dạy của mẹ". Đất đấy, thiên nhiên đấy, màu vàng của lúa, màu xanh của mạ của cây cối, miền quê con sông ấy đã kiến tạo nên tâm hồn, để biết khóc trong tiếng mưa, biết cười trong nắng, biết múa hát trong tiếng cây cỏ trỗi dậy sau trận mưa rào.