Văn học Giải phóng miền Nam: Một tiến trình độc đáo và vĩ đại
Văn học Giải phóng miền Nam: Tiến trình độc đáo

Văn học, hay rộng hơn là văn nghệ giải phóng miền Nam Việt Nam, tồn tại từ năm 1954 đến 1975, là một bộ phận ưu tú của nền văn nghệ nước nhà. Đây là một binh chủng đặc biệt trong lực lượng kháng chiến, góp phần làm nên Đại thắng Mùa Xuân năm 1975 – một trong những chiến công oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Nghị quyết Đại hội lần thứ tư của Đảng đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trang sử chói lọi, biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người”.

Những nhà báo – chiến sĩ tiên phong

Nhà báo – nhà thơ Lê Quang Trang và Trần Thị Thắng là những chiến sĩ mang trong mình cả tay súng lẫn tay bút. Họ từ miền Bắc vào miền Nam tăng cường cho đội ngũ báo chí, văn nghệ giải phóng từ đầu thập niên 70 của thế kỷ trước. Trải qua những năm tháng lăn lộn nơi chiến trường, họ đã cho ra đời nhiều tác phẩm từ khói lửa, không chỉ phục vụ kịp thời công tác tuyên truyền kháng chiến mà còn thấm đẫm dòng máu yêu nước, trở thành những hạt giống tâm hồn nảy xanh trong lòng bạn đọc. Họ đã dành trọn một phần cuộc đời cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, và chính cuộc kháng chiến ấy đã dựng nên tên tuổi đáng nhớ của họ trên văn đàn.

Công trình đồ sộ về văn học giải phóng

Cuốn sách “Văn học Giải phóng miền Nam Việt Nam 1954-1975 – Một tiến trình độc đáo” dày gần 1.000 trang khổ lớn, trong đó có gần 150 trang khảo cứu. Nội dung làm rõ các khái niệm, bối cảnh ra đời, tuyên ngôn và hướng đi của Văn học Giải phóng; quá trình phát triển và ảnh hưởng của nó đối với thời đại cũng như sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Sau ngày hòa bình, Trần Thị Thắng chuyển về công tác tại Báo Văn nghệ, gắn bó với tờ báo lớn trong sự nghiệp xây dựng nền văn nghệ mới của cả nước. Lê Quang Trang, trước khi là Tổng Biên tập báo Đại Đoàn kết, từng là Trưởng ban Nhân Dân cuối tuần của Báo Nhân Dân, góp phần tập hợp nhiều cây bút hai miền cho báo Đảng, tạo nên chất lượng đáng nhớ của một tuần báo với những cộng tác viên hàng đầu như Trần Bạch Đằng, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Minh Thảo, Nguyễn Văn Hiệu, Vũ Tuyên Hoàng, Đào Thế Tuấn, Phan Phải, Nguyễn Lân Dũng, Đinh Ngọc Lân, Võ Quý…

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Khi nghỉ hưu, Trần Thị Thắng và Lê Quang Trang trở về mảnh đất nắng ấm miền Nam, như để tri ân và sống tiếp với những yêu thương mà đồng chí, đồng bào miền Nam trung kiên, trượng nghĩa đã dành cho họ. Mang trong lòng chút ưu tư, day dứt khi không ít đồng đội, đồng nghiệp đã ra đi, và cụm từ “văn nghệ giải phóng” hầu như ít xuất hiện trên sách báo, thậm chí trong cả từ điển chuyên ngành… Chính vì vậy, hai người bạn đời, bạn nghề đã cùng tâm sự: “Khi được nghỉ quản lý thì sức khỏe đã giảm. Đồng đội cũ tản mác nhiều nơi, xa xôi cách trở không dễ gặp. Ngay tác phẩm của nhau cũng không dễ thu thập đầy đủ. Tài liệu qua chiến tranh thất thoát nhiều, việc khai thác cũng không hề dễ. Cùng với thời gian trôi, nhớ và nghĩ về quá khứ, nhất là những ngày gian khổ, dường như lòng người cũng nhạt phai dần. Thái độ với Văn nghệ Giải phóng cũng trôi đi trong dòng đời phai nhạt ấy. Tự cho là thế hệ cuối được tham dự vào việc vĩ đại và độc đáo của ngành nghề mình, trong một thời đoạn có một không hai của dân tộc, cho nên lại cầm lấy ‘vũ khí’ là cây bút mà ra trận”.

Và qua lao động miệt mài hàng chục năm trong tình yêu lớn ấy, hai tác giả đã cho ra mắt bạn đọc một công trình đồ sộ từ trước tới nay về lĩnh vực này, mang tựa đề “Văn học Giải phóng miền Nam Việt Nam 1954-1975 – Một tiến trình độc đáo”. Sách do Nhà xuất bản Tổng hợp Hồ Chí Minh xuất bản; được Nhà xuất bản Hội Nhà văn in lại đúng vào dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Nội dung và giá trị của cuốn sách

Phần thứ nhất của sách là khảo cứu, làm rõ các khái niệm, bối cảnh ra đời, tuyên ngôn và hướng đi của Văn học Giải phóng; quá trình phát triển và ảnh hưởng của nó với thời đại; với sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại. Từ đội ngũ đến tinh thần tác phẩm, Văn học Giải phóng là đỉnh cao của tinh thần yêu nước, của tinh thần hòa hợp đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, giữa vùng tạm chiếm và vùng giải phóng, giữa miền Bắc và miền Nam. Phần thứ hai là chọn lọc giới thiệu tác giả, tác phẩm tiêu biểu. Dù không thể giới thiệu hết một nền văn học phát triển phong phú, rực rỡ suốt hai mươi năm trong một cuốn sách, nhưng những tác phẩm, tác giả tiêu biểu nhất chắc chắn đã không bị bỏ sót.

Khi nói về tác phẩm “Tấn trò đời” (La Comédie humaine), F. Engels cho rằng Balzac là bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, và “Tấn trò đời” là bức tranh hiện thực sâu sắc hơn cả những gì mà các nhà sử học, thống kê học thời bấy giờ nói được về nước Pháp giai đoạn 1816-1848. Vì sao? Vì các nhà sử học, thống kê học không nói được về con người. Chúng ta cũng có thể nói như vậy về Văn học Giải phóng. Có lẽ không có cuốn sử nào phản ánh một cách sinh động và chính xác về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam Việt Nam từ 1954-1975 bằng Văn học Giải phóng, Văn nghệ Giải phóng.

Từ Chủ tịch Hội đầu tiên – nhà sân khấu Trần Hữu Trang, Tổng Thư ký Hội đầu tiên – nhà văn Lý Văn Sâm đến các thế hệ sau này, từng người một, các văn nghệ sĩ giải phóng đã lấy máu mình để viết nên tác phẩm, đã lấy tác phẩm để thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước, quyết tâm cứu nước, thắp sáng lòng tin đối với Đảng, Bác Hồ và chủ nghĩa xã hội. Thế hệ chúng tôi đã đọc “Từ tuyến đầu Tổ quốc”, “Bóng cây Kơ nia” của Ngọc Anh, “Mồ anh hoa nở” của Thanh Hải, “Quê hương” của Giang Nam. Rồi “Bài ca chim Chơ rao” của Thu Bồn, “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi, “Sống như Anh” của Trần Đình Vân, “Hòn Đất” của Anh Đức, “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm, thơ Lê Anh Xuân, Viễn Phương, Hoài Vũ, Liên Nam, Diệp Minh Tuyền, Ngô Thế Oanh… Những tác phẩm đó đã hun nóng nhiệt tình yêu nước, thắp lên ngọn lửa lý tưởng, tinh thần quyết thắng; đã bồi bổ thêm sức mạnh cho quân đội ta, nhân dân ta trong quá khứ. Và tôi tin tưởng một cách chắc chắn rằng, những tác phẩm văn học đó còn mãi bồi bổ cho tâm hồn cao đẹp của dân tộc Việt Nam.

Tôi tin tưởng rằng, cuốn sách của Lê Quang Trang và Trần Thị Thắng không chỉ là tài liệu quý cho các nhà nghiên cứu văn học, mà còn rất cần được phổ biến, trao truyền cho thế hệ trẻ. Trong nhiều tác giả của Văn học Giải phóng, có người hy sinh trong chiến đấu như Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Trọng Định, Nguyễn Mỹ, Nguyễn Hồng…; nhiều người khác qua đời vì di chứng chiến tranh, sốt rét, bệnh tật, tuổi tác… Nhưng tác phẩm của họ thì còn mãi. Vì họ đã viết nên “Bài ca Đất nước”. Họ đã thành Đất nước, như nhà văn, nhà thơ Nam Hà (Nguyễn Anh Công) đã viết:

Đất nước Ta hát mãi bài ca Đất nước
Cho tuổi thanh xuân sáng bừng lên như ngọc
Cho mắt ta nhìn tận cùng trời
Và cho chân ta đi tới cuối đất
Ôi! Tổ quốc mà ta yêu quý nhất
Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi!

Nguyễn Sĩ Đại