Chuyên gia cảnh báo gánh nặng bệnh phế cầu khuẩn ở trẻ em Việt Nam
Chuyên gia cảnh báo gánh nặng bệnh phế cầu khuẩn ở trẻ em

Gánh nặng bệnh do phế cầu khuẩn ở trẻ em

Ngày 15/5, tại Hà Nội, Hội Y học Dự phòng Việt Nam phối hợp tổ chức tọa đàm khoa học cập nhật thông tin y khoa về bệnh do phế cầu khuẩn ở trẻ em. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh phòng ngừa bệnh phế cầu khuẩn là một trong những nội dung được Bộ Y tế đưa vào Kế hoạch Tiêm chủng Mở rộng giai đoạn 2026-2028. Chương trình quy tụ các chuyên gia đầu ngành về nhi khoa và y tế dự phòng, gồm: GS.TS.BS Phan Trọng Lân - Viện trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Chủ tịch Hội Y học Dự phòng Việt Nam; PGS.TS.BS Cao Hữu Nghĩa - Trưởng Bộ môn Khoa học Y Sinh, Viện Pasteur Tp.HCM; PGS.TS.BS Phạm Quang Thái - Phó Trưởng Khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương; BS CKII - Thầy thuốc ưu tú Nguyễn Minh Tiến, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguy cơ phức tạp từ ô nhiễm và kháng sinh

Phát biểu khai mạc tọa đàm, GS.TS.BS Phan Trọng Lân chia sẻ: "Có những bệnh nếu chúng ta chờ đến khi vào viện mới quan tâm thì thường đã muộn, hoặc ít nhất là đã phải trả giá bằng rất nhiều lo lắng, chi phí và đôi khi là cả những hậu quả nặng nề cho trẻ. Bệnh do phế cầu khuẩn là một ví dụ như vậy vì vi khuẩn này là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây viêm phổi, viêm màng não và nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em. Hiện nay, dưới tác động của ô nhiễm môi trường, đô thị hóa và tình trạng tự ý sử dụng kháng sinh, bức tranh dịch tễ của bệnh do phế cầu khuẩn đang trở nên phức tạp hơn".

PGS.TS.BS Cao Hữu Nghĩa nhấn mạnh: "Hiện nay bệnh do phế cầu khuẩn không chỉ là mối nguy ở nhóm trẻ nhũ nhi và trẻ dưới 5 tuổi mà còn có thể gây bệnh nặng và biến chứng ở một số trẻ lớn hơn có bệnh nền nguy cơ cao. Do đó, việc nhận diện đúng nhóm nguy cơ ở từng độ tuổi đóng vai trò quan trọng, giúp định hướng các biện pháp phòng ngừa phù hợp để giảm gánh nặng bệnh tật cho trẻ".

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Dịch tễ thay đổi và giám sát liên tục

Bổ sung góc nhìn dịch tễ, PGS.TS.BS Phạm Quang Thái cho biết: "Bức tranh dịch tễ phế cầu khuẩn ở trẻ em Việt Nam tiếp tục thay đổi theo thời gian, với sự đa dạng của các típ huyết thanh lưu hành. Giám sát dịch tễ liên tục và cập nhật dữ liệu khoa học là cơ sở cho các quyết định chuyên môn về y tế dự phòng".

Thực tế lâm sàng và kháng kháng sinh

Từ góc nhìn lâm sàng, BS Chuyên khoa II Nguyễn Minh Tiến chia sẻ: "Hàng năm, bệnh viện chúng tôi tiếp nhận các ca viêm phổi nặng, viêm tai giữa tái phát do phế cầu khuẩn, và cả những trường hợp viêm màng não. Có những bệnh nhi phải can thiệp ECMO. Điều ít cha mẹ nhận thức được là bệnh phế cầu khuẩn được ghi nhận ở nhiều nhóm tuổi khác nhau và khi trẻ đã mắc bệnh, lựa chọn điều trị có thể bị ảnh hưởng bởi tình trạng kháng kháng sinh ngày càng được ghi nhận".

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Số liệu giám sát và tỷ lệ tử vong đáng báo động

Theo Hội Y học Dự phòng Việt Nam, phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) hiện là một trong những tác nhân hàng đầu gây viêm phổi mắc phải trong cộng đồng và nhiều bệnh xâm lấn (IPD) có thể đe dọa tính mạng như nhiễm khuẩn huyết và viêm màng não. Dữ liệu giám sát tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 và 2 - Tp.HCM (2012-2021) cho thấy, phế cầu khuẩn là tác nhân phổ biến nhất gây viêm màng não vi khuẩn ở trẻ dưới 5 tuổi (86,1%), tiếp theo mới đến H. influenzae (7,6%) và vi khuẩn não mô cầu (6,3%). Tại Bệnh viện Nhi Trung ương (2019-2022), nghiên cứu trên 274 trẻ mắc IPD ghi nhận 24 ca tử vong, với 84,7% trong số đó là nhóm dưới 5 tuổi - tương ứng tỷ lệ tử vong khoảng 8,8%, tức cứ khoảng 11 trẻ mắc IPD thì có 1 trẻ không qua khỏi.

Mang trùng không triệu chứng và típ huyết thanh nguy hiểm

Đáng chú ý, nghiên cứu xuất bản năm 2026 ước tính khoảng 1/3 trẻ em Việt Nam mang phế cầu khuẩn không triệu chứng ở vùng hầu họng - trở thành nguồn lây chủ yếu trong cộng đồng và hộ gia đình đa thế hệ. Nghiên cứu này cũng xác định các típ huyết thanh phổ biến nhất thường được ghi nhận là 6A (23%), 19F (17%), 6B (15%), 23F (10%), 14 (8%) và 19A (3%). Trong đó, típ 19F đáng được theo dõi đặc biệt vì mức độ phổ biến (ghi nhận trong 17% trẻ mang trùng) và liên quan đến 25% số ca tử vong IPD được xác định tại Bệnh viện Nhi Trung ương.