Việt Nam ghi nhận 24 ca mắc, 4 ca tử vong do não mô cầu trong 3 tháng đầu năm 2026
Trong hơn 3 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã ghi nhận 24 trường hợp mắc bệnh não mô cầu, với 4 ca tử vong, con số này cho thấy sự gia tăng rõ rệt so với cùng kỳ năm ngoái. Các ca bệnh xuất hiện rải rác tại nhiều địa phương trên cả nước, chưa hình thành ổ dịch lớn nhưng tiềm ẩn nguy cơ hình thành chuỗi lây nhiễm âm thầm trong cộng đồng.
Trẻ em dưới 15 tuổi chiếm 46% tổng số ca bệnh
Đáng chú ý, nhóm trẻ em dưới 15 tuổi chiếm tới 46% tổng số ca bệnh, cho thấy nguy cơ cao ở nhóm đối tượng này. Các ca bệnh hiện ghi nhận rải rác tại nhiều địa phương, chưa hình thành ổ dịch tập trung nhưng lại đặt ra thách thức lớn trong kiểm soát do đặc tính lây lan âm thầm của bệnh. Thực tế dịch tễ gần đây cho thấy dấu hiệu của các chuỗi lây nhiễm trong cộng đồng.
Các trường hợp cụ thể tại Cà Mau và Phú Quốc
Mới đây, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Cà Mau đã xác nhận hai trong ba người nghi mắc viêm não mô cầu có kết quả xét nghiệm dương tính với vi khuẩn, bao gồm một ca đã tử vong. Ngành y tế tỉnh ngay lập tức điều tra dịch tễ, khoanh vùng và xử lý ổ dịch. Lực lượng chức năng yêu cầu những người tiếp xúc gần theo dõi sức khỏe trong 10 ngày, đồng thời khử khuẩn môi trường khu vực có yếu tố dịch tễ. Hiện địa phương chưa ghi nhận thêm ca mắc mới.
Trước đó, một bé gái 11 tuổi tại Phú Quốc đã tử vong sau khi xuất hiện các triệu chứng điển hình như sốt, đau đầu, ban xuất huyết và suy hô hấp, được xác định nhiễm não mô cầu nhóm B. Bé gái này đã tiếp xúc với nhiều bạn học, trong đó có bạn học đã xuất hiện triệu chứng nghi nhiễm.
Nguyên nhân và đặc điểm của bệnh não mô cầu
PGS.TS Đỗ Duy Cường - Viện trưởng Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai cho biết: Đây là bệnh do vi khuẩn gây dịch nguy hiểm nhóm B, Nesseiria meningitisis cư trú ở hầu họng gây ra, lây qua đường giọt bắn. Bệnh thường xảy ra ở các khu vực đông dân cư như doanh trại quân đội, ký túc xá, khu tập thể, trường học…
Đối tượng mắc chủ yếu là người trẻ tuổi, những người chưa có miễn dịch hoặc chưa tiêm phòng. Tỷ lệ người mang trùng không triệu chứng dao động từ 5-20%, cao nhất ở lứa tuổi thanh thiếu niên (23,7%). Đây chính là “ổ chứa” âm thầm nhưng nguy hiểm, dễ dàng phát tán dịch nếu không có biện pháp phòng ngừa chủ động, thường liên quan đến các hành vi nguy cơ như hút thuốc lá, hôn, tụ tập đông người, đi bar/pub...
Diễn biến nhanh và nguy hiểm của bệnh
Bệnh thường diễn biến nhanh, gây viêm màng não, nhiễm trùng huyết, nặng hơn có thể dẫn đến suy đa tạng và có thể cướp đi mạng sống chỉ trong vòng 24 giờ nếu không được điều trị kịp thời. Bên cạnh đó, di chứng nặng nề vẫn tồn tại ở người khỏi bệnh như điếc, co giật hoặc tổn thương thần kinh vĩnh viễn.
Thách thức trong phòng ngừa và điều trị
BS.CKI Nguyễn Tiến Đạo - Quản lý Y khoa, Hệ thống Tiêm chủng VNVC chỉ ra một thách thức của bệnh này là vi khuẩn não mô cầu có nhiều nhóm huyết thanh. Tại Việt Nam, có 5 nhóm chính A, B, C, W, Y đang lưu hành đồng thời và cũng là nguyên nhân gây hơn 90% ca bệnh trên toàn cầu. Các nhóm này không tạo miễn dịch chéo, đồng nghĩa với việc nhiễm hoặc tiêm phòng một nhóm không bảo vệ được trước các nhóm còn lại.
Theo các nghiên cứu dịch tễ, nguy cơ lây nhiễm ở người tiếp xúc gần có thể tăng gấp 500 - 800 lần. Khi hệ miễn dịch suy yếu do bệnh lý, căng thẳng, thiếu ngủ hoặc các yếu tố khác, vi khuẩn có thể bùng phát, vượt qua hàng rào bảo vệ tự nhiên và gây bệnh nặng.
Khuyến cáo từ chuyên gia y tế
Các chuyên gia khuyến cáo, vắc xin là giải pháp duy nhất và hiệu quả nhất để chủ động phòng bệnh. Hiện có hai loại vắc xin quan trọng: Bexsero (GSK – Ý) phòng nhóm B và Menactra (Sanofi – Mỹ) phòng các nhóm A, C, Y, W-135.
PGS.TS Đỗ Duy Cường nhấn mạnh: “Người dân, đặc biệt trẻ em và thanh thiếu niên cần tiêm đầy đủ và kết hợp cả hai loại vắc xin theo đúng phác đồ để tạo lớp bảo vệ toàn diện trước các nhóm vi khuẩn nguy hiểm đang lưu hành. Đồng thời, khi có các triệu chứng nghi ngờ nhiễm viêm màng não do não mô cầu như sốt, mệt mỏi, lơ mơ, nhận thức chậm, ban xuất huyết dưới da cần đến ngay cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Khoanh vùng khu vực ca bệnh, những người tiếp xúc với người bệnh, có biện pháp cảnh báo, theo dõi, phòng bệnh.”



