Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận cơ chế đặc thù phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế
Sáng ngày 19 tháng 3, trong khuôn khổ Phiên họp thứ 55, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tiến hành thảo luận và đóng góp ý kiến cho dự thảo Nghị quyết về cơ chế phối hợp và chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác phòng ngừa và giải quyết các tranh chấp đầu tư quốc tế. Phiên họp tập trung vào việc xây dựng một khung pháp lý toàn diện, với nhiều cơ chế đặc thù được đề xuất cho Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Nội dung chi tiết của dự thảo Nghị quyết
Trình bày Tờ trình, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh cho biết dự thảo Nghị quyết bao gồm 6 chương và 22 điều, quy định cụ thể về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, cũng như các chính sách đặc thù nhằm bảo đảm nguồn lực cho hoạt động phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế. Đối tượng áp dụng của Nghị quyết không chỉ giới hạn ở các Bộ, ngành thuộc Chính phủ, mà còn mở rộng đến tất cả cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan đến lĩnh vực này.
Về nội dung phối hợp trong phòng ngừa tranh chấp, dự thảo quy định rõ việc hợp tác trong các hoạt động như tham mưu đề xuất ban hành chính sách pháp luật, ký kết và chấp thuận các cam kết quốc tế, xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài. Đồng thời, dự thảo nhấn mạnh việc giải quyết kịp thời, thống nhất và đúng thẩm quyền các phản ánh, kiến nghị, khiếu nại của nhà đầu tư nước ngoài, đảm bảo phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế.
Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp, dự thảo Nghị quyết xác định rõ cơ quan chủ trì với vai trò là đầu mối quản lý, điều phối và chịu trách nhiệm toàn diện, bao gồm các nhiệm vụ như tiếp nhận thông tin, tổ chức thương lượng, làm đầu mối liên lạc với nhà đầu tư và cơ quan tài phán, xây dựng chiến lược, lựa chọn luật sư và trọng tài viên, tham gia tố tụng và tổ chức thi hành phán quyết. Cơ quan đại diện pháp lý sẽ hỗ trợ chuyên môn, xây dựng danh sách chuyên gia, đào tạo nâng cao năng lực, tư vấn và phối hợp thực hiện chiến lược. Các cơ quan liên quan khác có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, cung cấp thông tin, tài liệu và nhân sự kịp thời, đồng thời chịu trách nhiệm toàn diện trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp.
Cơ chế chính sách đặc thù và chế độ đãi ngộ
Dự thảo Nghị quyết cũng đề cập đến các cơ chế chính sách đặc thù chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, áp dụng cho Trung tâm phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế cũng như người làm việc tại đây. Về nguồn thu, Trung tâm được ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, đồng thời được phép thu từ việc cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho các tổ chức, doanh nghiệp, cũng như nhận các nguồn viện trợ, tài trợ hợp pháp.
Về nhiệm vụ chi, Trung tâm được áp dụng các cơ chế chính sách đặc biệt theo quy định về khoán chi để bảo đảm nâng cao chất lượng nhân lực, thuê chuyên gia tư vấn, và thúc đẩy hoạt động ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số theo Nghị quyết 197 của Quốc hội. Về chế độ lao động, nhân viên được ký hợp đồng lao động với mức lương do Bộ trưởng Tư pháp quy định, tương xứng với nhiệm vụ và phù hợp với mặt bằng tiền lương trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trên thị trường lao động, nhưng không vượt quá 100 lần mức lương cơ sở.
Về chính sách đãi ngộ, viên chức của Trung tâm làm việc trong lĩnh vực phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, cũng như công chức được điều động đến, được hưởng phụ cấp tăng thêm hằng tháng bằng 100% mức lương hiện hưởng. Ngoài ra, trong thời gian trực tiếp tham gia giải quyết vụ việc tranh chấp, theo quyết định của Bộ trưởng Tư pháp, họ còn được hưởng phụ cấp tăng thêm hằng tháng không quá 300% mức lương hiện hưởng. Dự thảo cũng có quy định chi tiết đối với cán bộ làm công tác này tại các Bộ, ngành và địa phương.
Ý kiến thẩm tra và đề xuất điều chỉnh
Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho thấy đa số ý kiến Thường trực Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết theo trình tự rút gọn, nhằm thể chế hóa chủ trương của Bộ Chính trị và Ban Chỉ đạo Trung ương, tạo cơ sở pháp lý để chủ động phòng ngừa, cảnh báo sớm tranh chấp, bảo đảm thực hiện cam kết quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, Thường trực Ủy ban đề nghị nghiên cứu thêm các nội dung về thành lập Trung tâm, chế độ chính sách đối với nhân sự, và đảm bảo phù hợp với Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi nhấn mạnh rằng, theo quy định hiện hành, Bộ Tư pháp là cơ quan đại diện pháp lý của Chính phủ trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, và Trung tâm là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ này. Do đó, nhiều ý kiến đề nghị cân nhắc việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế hoạt động của Trung tâm trong Nghị quyết, hoặc chỉ nên quy định nguyên tắc chung và giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính linh hoạt.
Về chính sách đặc thù đối với nhân sự, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị rà soát để bảo đảm tương xứng giữa chức năng, nhiệm vụ với cơ chế đặc thù, vì chức năng chính của Trung tâm là nghiên cứu, tư vấn, đào tạo và hỗ trợ chuyên môn, trong khi trách nhiệm chủ trì xử lý tranh chấp chủ yếu thuộc các bộ, ngành, địa phương. Ủy ban đề xuất chỉ quy định nguyên tắc, không ấn định mức cụ thể như 100 lần trong Nghị quyết của Quốc hội, do đây là nội dung thuộc thẩm quyền quản lý của Chính phủ.
Thay đổi tư duy từ giải quyết sang chủ động phòng ngừa
Trong thảo luận, các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhấn mạnh tư duy "phòng bệnh hơn chữa bệnh". Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho rằng, để bảo vệ quyền lợi quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, Việt Nam cần một hành lang pháp lý mạnh mẽ, tiếp cận theo tiêu chuẩn quốc tế. Ông đề xuất hai biện pháp quan trọng: thiết lập cơ chế đánh giá rủi ro bắt buộc cho các hợp đồng đầu tư trước khi ký kết, và thành lập đầu mối xử lý khiếu nại tập trung để giải quyết vướng mắc ban đầu thông qua hòa giải, tránh leo thang thành tranh chấp quốc tế.
Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương đồng tình với quan điểm này, khẳng định "vấn đề quan trọng là nhấn mạnh phòng ngừa hơn xử lý". Ông đề xuất 4 trụ cột cho khung pháp lý phòng ngừa, bao gồm: minh bạch hóa Luật Đầu tư, hạn chế xung đột pháp luật, đảm bảo đối xử công bằng, và thiết lập cơ chế cảnh báo sớm thông qua một đầu mối quốc gia để theo dõi và đánh giá rủi ro từ các dự án đầu tư nước ngoài ngay từ giai đoạn đầu.



