Sáng 16/6, tại Hội nghị triển khai thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu đã trình bày Báo cáo một số nội dung cơ bản của Đề án Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI (Đề án), Kế hoạch số 64/KH-UBTVQH16 và yêu cầu, nội dung xây dựng kế hoạch triển khai của các cơ quan, tổ chức, cùng các giải pháp bảo đảm thực hiện.
Mục tiêu của công tác lập pháp
Báo cáo nêu rõ, mục tiêu của công tác lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI là hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, tạo lập khung khổ pháp lý thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2026-2031 và nền tảng cho hệ thống quản trị hiện đại, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển các lĩnh vực mới, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc; khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Đến năm 2030, Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, mở đường cho kiến tạo phát triển, huy động mọi người dân và doanh nghiệp tham gia vào phát triển kinh tế-xã hội, tạo tiền đề đến năm 2045, nước ta có hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế, tiên tiến và phù hợp với thực tiễn đất nước.
Đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu, Đề án xác định 6 quan điểm chỉ đạo, 6 yêu cầu đối với công tác lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI. Trọng tâm là bảo đảm công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, chặt chẽ của Đảng; kịp thời thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng. Nghiên cứu sửa đổi tổng thể và tiếp tục cụ thể hóa Hiến pháp; tạo lập đầy đủ hành lang pháp lý điều chỉnh toàn diện các lĩnh vực kinh tế-xã hội.
Công tác lập pháp phải bám sát mục tiêu chiến lược phát triển đất nước, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển được đề ra tại Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; đồng thời, tiếp nối các mục tiêu chiến lược đã được xác lập tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW và các nghị quyết chiến lược, trụ cột, chuyên đề, bảo đảm tính ổn định, đồng bộ, nhất quán và liên tục trong hoạch định chính sách và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Một yêu cầu quan trọng được nhấn mạnh là tiếp tục đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật; dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Mọi chính sách phải phục vụ sự phát triển của đất nước, lợi ích của nhân dân, gắn với kiểm soát chặt chẽ quyền lực, nâng cao trách nhiệm giải trình, bảo đảm công bằng, minh bạch; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.
Đề án cũng yêu cầu công tác lập pháp phải có tầm nhìn chiến lược, nhưng cũng có trọng tâm, trọng điểm; đặt trong tổng thể yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật, đồng bộ với Đề án Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, Đề án Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới, gắn với cải cách pháp luật, cải cách tư pháp. Ngoài ra, các định hướng lập pháp và danh mục nhiệm vụ lập pháp phải được xác định cụ thể theo từng định hướng, gắn với thứ tự ưu tiên trong triển khai thực hiện. Đồng thời, việc xác định các định hướng, nhiệm vụ lập pháp vừa có tính “động”, vừa có tính “mở”, đòi hỏi các cơ quan thường xuyên rà soát, đánh giá, kịp thời điều chỉnh hoặc kiến nghị điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với chủ trương, đường lối trong các văn kiện mới của Đảng và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
8 định hướng lập pháp trọng tâm gắn với 171 nhiệm vụ
Về một số định hướng lập pháp trọng tâm, Chủ nhiệm Phan Chí Hiếu nhấn mạnh, Đề án xác định nhiệm vụ nghiên cứu tổng kết, sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013 phù hợp với thực tiễn, yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới; đồng thời, xác định 8 định hướng lập pháp trọng tâm gắn với 171 nhiệm vụ cần thực hiện trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, cụ thể là:
- Định hướng về xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và vận hành tối ưu mô hình chính quyền 3 cấp (34 nhiệm vụ).
- Định hướng về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (14 nhiệm vụ).
- Định hướng về xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính (42 nhiệm vụ).
- Định hướng về phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam; xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới (13 nhiệm vụ).
- Định hướng về quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và chăm lo đời sống nhân dân (22 nhiệm vụ).
- Định hướng về quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu (19 nhiệm vụ).
- Định hướng về tăng cường quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả (42 nhiệm vụ).
- Định hướng về phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc (7 nhiệm vụ).
Đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp luật
Để bảo đảm việc thực hiện Đề án hiệu quả, Báo cáo nêu rõ 7 nhóm giải pháp cần tập trung triển khai, gồm:
- Tăng cường lãnh đạo, kiểm tra và giám sát của các cấp ủy Đảng đối với công tác xây dựng pháp luật. Cấp ủy đảng của các cơ quan, tổ chức tham gia trong quy trình lập pháp cần xác định đây là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất của cơ quan, tổ chức mình.
- Đổi mới phương thức hoạt động, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm an ninh chính trị; đề cao vai trò, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quy trình xây dựng pháp luật: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; Chính phủ và các cơ quan khác có quyền trình dự án; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội.
- Triển khai đồng bộ với các giải pháp hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật được xác định trong Kết luận số 09-KL/TW của Bộ Chính trị và Đề án Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
- Tăng cường gắn kết giữa công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Thường xuyên tổng kết thực tiễn, đánh giá hiệu quả, chất lượng chính sách sau ban hành văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời đề xuất việc điều chỉnh bất cập, mâu thuẫn, tháo gỡ nhanh nhất những “điểm nghẽn” có nguyên nhân từ các quy định của pháp luật.
- Tăng cường, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm an ninh chính trị, phòng, chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp luật.
- Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy trình lập pháp, rút ngắn thời gian ban hành luật nhưng vẫn bảo đảm nâng cao chất lượng, nhất là ở các bước xây dựng, hoạch định và đánh giá tác động chính sách phải thực chất, hiệu quả, tránh hình thức.
- Tăng cường các điều kiện bảo đảm cho công tác xây dựng pháp luật; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) vào tất cả các khâu của quy trình lập pháp, hiện đại hóa toàn diện phương thức xây dựng pháp luật.
Tại hội nghị, các đại biểu cũng nghe Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày một số nội dung cơ bản của Kế hoạch số 64/KH-UBTVQH16 ngày 22/5/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về triển khai thực hiện Kết luận số 17-KL/TW của Bộ Chính trị và Đề án Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI. Đồng thời, nghe Thứ trưởng Tư pháp Đặng Hoàng Anh báo cáo về kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận 17 của Bộ Chính trị, Đề án và Kế hoạch số 64/KH-UBTVQH16 trong phạm vi Chính phủ phụ trách.



