Nghĩa tình Sê San: Hành trình từ làng bè nổi lên bờ của những phận người
Nghĩa tình Sê San: Hành trình từ làng bè nổi lên bờ

Giữa vùng biên giới Ia Tơi (Quảng Ngãi, trước thuộc Kon Tum), có những người đàn ông đã bật khóc khi đặt bàn thờ gia tiên lên nền gạch mới xây. Những đứa trẻ lần đầu tiên biết cảm giác ngủ trên đất liền sau gần chục năm lớn lên trên những căn bè chòng chành giữa lòng hồ thủy điện Sê San.

Thân phận nổi trôi trên hồ Sê San

Tôi đến Sê San vào tháng 7.2013. Mùa mưa Tây nguyên phủ xuống vùng hồ màu trắng bạc của sương khói biên thùy. Dòng nước mênh mang hun hút, lạnh và buồn. Những chiếc bè nổi ghép bằng ván cũ nằm co ro dưới chân núi. Trên đó là những phận người tha hương từ An Giang, Huế, Quảng Trị, Bình Định cũ, Bình Phước cũ… bỏ quê lên vùng biên kiếm kế sinh nhai bằng nghề chài lưới. Họ sống như những cánh bèo không hộ khẩu, không giấy tờ tạm trú, không đất cắm dùi.

Tối ấy, trên chiếc bo bo của lực lượng kiểm soát đường sông, tôi ghé những nhà bè ở lòng hồ. Ánh đèn dầu leo lét soi những gương mặt khắc khổ, sạm màu gió nước. Có nhà chỉ rộng chừng hơn 20 m², vừa là chỗ ngủ, chỗ nấu ăn, vừa là nơi vá lưới. Ông Đặng Văn Thân, người đầu tiên đưa bà con miền Tây lên đây, kể ngày mới tới hồ Sê San, dân làng chài từng bị đuổi đi vì ở trên bè ai quản lý được. Mỗi lần có đoàn kiểm tra, cả xóm phải kéo bè chạy vào một gò nổi um tùm cỏ dại để trốn vài ngày.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Đêm đó, xóm miền Tây đãi khách bằng rượu Bàu Đá, cá sông nướng và một tô ba khía mang từ An Giang lên. Rượu vào, nỗi lòng người tha hương cứ thế tuôn ra theo sóng nước. Tư Sơn, khi ấy mới ngoài 30 tuổi, gửi 4 đứa con cho ông bà nội ở quê vì không đủ sức nuôi. Đứa nhỏ nhất mới 2 tuổi phải theo cha mẹ lên bè tập quen đời sông nước. "Hổng ai muốn đi xa quê hết. Nhưng ở quê không có đất ruộng. Mùa nước nổi còn kiếm được chút đỉnh, mùa khô thì trắng tay. Nghe người quen gọi lên Sê San dễ sống hơn nên tụi em đi", anh nói, rồi bưng ly rượu uống cạn.

Những trang báo đánh thức chính quyền

Sau chuyến đi ấy, tôi trở về viết nhiều bài về làng chài Sê San trên Báo Thanh Niên. Những bài báo kể về kiếp người không hộ khẩu, trẻ em thất học, người bệnh không giấy tờ, những gia đình quanh năm ngủ trên bè nổi giữa lòng hồ biên giới. Sau khi các bài viết được đăng tải, nhiều cán bộ tỉnh Kon Tum cũ đã tìm đến tận nơi. Những chuyến ghe của chính quyền bắt đầu cập bến làng bè. Cán bộ xã, huyện, bộ đội biên phòng xuống tận nhà bè hỏi han từng hộ dân, ghi chép nhân khẩu, nguyện vọng.

Đầu năm 2015, anh Hai Triều, người được bà con gọi là trưởng xóm chài, đánh liều lên UBND xã Ia Tơi xin tạm trú. Sau cuộc gặp, chính quyền địa phương báo cáo cấp trên. Bộ đội biên phòng sau đó mời toàn bộ bà con lên làm thủ tục đăng ký tạm trú. Đó là bước ngoặt đầu tiên.

Rồi cuối năm 2017, Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum khi ấy là ông Nguyễn Văn Hùng trực tiếp đi ghe ra làng bè. Ông hỏi chuyện từng gia đình, tận mắt nhìn cảnh trẻ con lớn lên trên mặt nước và chỉ đạo các ngành chức năng tạo điều kiện cấp hộ khẩu, bố trí đất ở cho bà con lên bờ ổn định cuộc sống. Một năm sau, 29 hộ dân được cấp đất ở, mỗi hộ 400 m² cùng 50 triệu đồng hỗ trợ làm nhà. Ngày nghe tin được nhập hộ khẩu, nhiều người không tin nổi. Anh Nguyễn Tuấn Vũ kể lần đầu được chính quyền đưa xe chở đi bầu cử, tay anh run lên khi cầm lá phiếu. "Lâu lắm rồi tụi tui mới biết cảm giác mình là công dân thật sự", anh nói.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Cái Tết đầu tiên trên bờ

Cuối năm 2018, tôi quay lại Sê San. Con đường đất đỏ ngày nào giờ dẫn vào khu dân cư nhỏ nằm nép bên hồ thủy điện. Những căn nhà xây còn thơm mùi vôi mới. Anh Hai Triều đứng trước căn nhà trị giá gần 300 triệu đồng vừa hoàn thiện, mắt đỏ hoe. "Gần 10 năm rồi mới được ăn tết trên bờ", giọng anh nghèn nghẹn.

Trước kia, tết của dân làng chài chỉ là vài két bia, ít thịt cá gửi thương lái mua giúp ngoài chợ. Họ tụ tập nhậu suốt mấy ngày trên bè để quên nỗi nhớ quê. Đêm giao thừa, ông Sáu Đoi mang đờn ra ca tài tử. Người say nằm vật trên sàn gỗ. Người ngồi khóc vì nhớ cha mẹ, nhớ xóm làng miền Tây. Thế nhưng cái tết năm 2019 đã khác. Phụ nữ trong làng rủ nhau gói bánh chưng, bánh tét. Người đi mua sữa, mua mứt. Người dọn sân chuẩn bị đón họ hàng dưới quê lên chơi nhà mới. Lần đầu tiên sau gần chục năm, những đứa trẻ làng bè biết thế nào là ngủ trên nền nhà không chòng chành theo sóng nước.

Cuộc sống mới và chiếc võng của anh Út

Hiện nay, phần lớn các hộ dân không còn ngủ trên bè nữa. Ban ngày họ ra hồ đánh cá, nuôi cá lồng, tối lại trở về nhà trên bờ. Những căn bè cũ chỉ còn là nơi neo đậu cho cuộc mưu sinh. Cuộc sống cũng đổi thay nhiều. Ngoài nghề đánh bắt cá tự nhiên, bà con chuyển sang nuôi cá diêu hồng, cá trắm, cá thác lác… Một số hộ làm dịch vụ du lịch chở khách trên hồ. Phụ nữ làng chài còn làm món bánh tráng cá cơm Sê San nổi tiếng khắp vùng. Mừng nhất là những đứa trẻ từng ngủ trên ghe cá giờ tung tăng cắp sách đến trường. Chính quyền địa phương cũng đầu tư hơn 3 tỉ đồng kéo điện về khu tái định cư. Tết năm ấy, ánh điện đầu tiên sáng lên giữa vùng dân cư mới ven hồ khiến cả làng chài thức gần như suốt đêm.

Nhiều năm làm báo, tôi từng đi qua không ít phận đời cơ cực nhưng làng chài Sê San luôn để lại trong tôi một ký ức đặc biệt. Bởi ở đó, tôi thấy sức mạnh của nghĩa tình. Nghĩa tình của những người dân tha hương cưu mang nhau giữa sóng nước. Nghĩa tình của những cán bộ địa phương tận tụy lắng nghe và nhanh chóng vào cuộc. Và cả nghĩa tình của nghề báo, khi những dòng chữ không chỉ dừng lại trên mặt giấy mà có thể góp phần làm đổi thay số phận con người.

Mười mấy năm sau, hầu như đêm trừ tịch nào anh em làng chài Sê San tụ tập bên chén rượu nồng cũng gọi cho anh Út - là tôi. Khi khoe làm ăn được, có năm nói khó khăn, nhưng được cái con cháu biết chữ, học hành đàng hoàng và luôn nhớ đến tôi. Và, chiều nay cũng vậy, khi gọi nhau về, Tư Sơn bảo: "Làng chài vẫn giữ nguyên cái võng cho anh Út". Bởi mỗi bận lên hồ, khi say tôi đều ngủ trên chiếc võng ấy.