Sự đảo chiều trên thị trường tài chính phản ánh áp lực thanh khoản ngày càng lớn trong hệ thống, khi tín dụng tăng tốc, huy động từ dân cư chậm lại và nhu cầu vốn trung, dài hạn gia tăng. Diễn biến này đang thể hiện rõ trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN).
Ngân hàng mất ưu thế trên thị trường trái phiếu
Theo báo cáo của Công ty chứng khoán MBS, trong 4 tháng đầu năm 2026, nhóm bất động sản dẫn đầu thị trường TPDN với khoảng 54.400 tỷ đồng phát hành, tăng 278% so cùng kỳ, chiếm 58,3% tổng giá trị toàn thị trường. Trong khi đó, nhóm ngân hàng ghi nhận khoảng 29.600 tỷ đồng, tương đương 28,6% tổng lượng phát hành.
Thống kê của Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA) cho thấy, trong tháng 4/2026, nhiều ngân hàng buộc phải đẩy lãi suất phát hành trái phiếu lên mức rất cao để huy động vốn. Cụ thể, các ngân hàng như MSB, Bac A Bank và Techcombank phát hành trái phiếu với lãi suất dao động 8,4-8,9%/năm, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ phổ biến ở mức 5,2-5,3%/năm.
Sang tháng 5/2026, hoạt động phát hành trái phiếu của nhóm ngân hàng vẫn sôi động. MB, Bac A Bank, Techcombank, MSB phát hành gần 10.000 tỷ đồng trái phiếu, lãi suất duy trì ở mức cao, phổ biến 8-8,6%/năm. Đáng chú ý, nhiều ngân hàng lớn đang chuẩn bị triển khai kế hoạch huy động vốn quy mô lớn qua kênh trái phiếu. BIDV lên phương án phát hành riêng lẻ 41.000 tỷ đồng. HDBank thông qua kế hoạch phát hành tối đa 15.000 tỷ đồng trái phiếu trong năm 2026, còn VPBank phê duyệt phát hành riêng lẻ lên tới 30.000 tỷ đồng.
Việc lãi suất phát hành trái phiếu tăng mạnh tạo áp lực lớn lên biên lợi nhuận ngân hàng. Chi phí huy động vốn đã tiệm cận lãi suất cho vay, khiến chênh lệch đầu vào-đầu ra thu hẹp đáng kể, dư địa lợi nhuận còn lại không còn nhiều.
Nguyên nhân và áp lực thanh khoản
Ông Đinh Quang Hinh, Trưởng phòng Khối vĩ mô và chiến lược thị trường của VNDirect, cho rằng lãi suất phát hành trái phiếu riêng lẻ bình quân của nhóm ngân hàng trong tháng 4/2026 đã lên tới 8,5%/năm, tăng 1,6 điểm phần trăm so với cuối năm 2025 và cao hơn 3,1 điểm phần trăm so cùng kỳ. Điều này cho thấy áp lực thanh khoản hệ thống vẫn ở mức đáng kể. Trong bối cảnh huy động từ dân cư chậm, nhiều ngân hàng buộc phải tìm nguồn vốn trung và dài hạn từ kênh trái phiếu và thị trường liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu tín dụng và bảo đảm các hệ số an toàn vốn.
TS Châu Đình Linh, giảng viên Trường đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, nhận định hệ thống ngân hàng chịu áp lực lớn từ thanh khoản, huy động vốn và nhu cầu tín dụng gia tăng. Lạm phát tăng buộc các ngân hàng duy trì lãi suất huy động thực dương để giữ sức hấp dẫn với người gửi tiền. Nhu cầu tín dụng phục hồi mạnh cũng khiến nhiều ngân hàng tăng lãi suất huy động, tạo thêm áp lực lên mặt bằng lãi suất cho vay. Áp lực thanh khoản không chỉ đến từ nhu cầu cho vay mà còn từ yêu cầu bảo đảm chi trả tiền gửi đến hạn và duy trì an toàn hệ thống. Dòng tiền gửi vào ngân hàng đang chậm lại khi nhiều kênh đầu tư khác trở nên hấp dẫn hơn.
Bất động sản cũng không khá hơn
Dù dẫn đầu thị trường về giá trị phát hành trái phiếu, nhóm bất động sản trong quý I/2026 chỉ ghi nhận khoảng 11.300 tỷ đồng trái phiếu được mua lại trước hạn, giảm 58% so cùng kỳ, xuống mức thấp nhất trong 4 năm. Tổng giá trị gốc và lãi trái phiếu chậm thanh toán phát sinh mới trong quý I lên tới 3.732 tỷ đồng, tăng 50% so với quý trước. Số tiền thực tế được thanh toán chỉ khoảng 57 tỷ đồng, cho thấy khả năng chủ động xử lý nghĩa vụ nợ của nhiều doanh nghiệp suy giảm rõ rệt.
Công ty CP Đầu tư địa ốc Phương Đông tiếp tục chậm thanh toán hàng chục tỷ đồng tiền lãi trái phiếu đến hạn, dù trước đó đã nhiều lần đàm phán giãn nợ và kéo dài kỳ hạn thêm hai năm. Doanh nghiệp này bị xử phạt do vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin, làm gia tăng lo ngại về tính minh bạch. Nhiều doanh nghiệp khác như May - Diêm Sài Gòn, Đầu tư Phát triển BĐS Thành Vinh hay TNI Nam Quang cũng trong tình trạng tương tự, gánh khối nợ hàng nghìn tỷ đồng nhưng hiệu quả kinh doanh hạn chế.
Ước tính của MBS cho thấy trong quý II/2026 sẽ có khoảng 58.500 tỷ đồng TPDN đáo hạn, tăng 140% so cùng kỳ và cao gấp 3,3 lần quý I. Áp lực đáo hạn chủ yếu tập trung ở nhóm bất động sản. Riêng tháng 5 và tháng 6/2026, giá trị trái phiếu đến hạn của nhóm này ước khoảng 23.000 tỷ đồng, chiếm 75,6% tổng lượng đáo hạn toàn thị trường. Báo cáo của VIS Rating dự báo năm nay sẽ có khoảng 99.000 tỷ đồng trái phiếu bất động sản đến hạn thanh toán.
Làn sóng phát hành trở lại không hoàn toàn phản ánh sự phục hồi khỏe mạnh. Một phần đáng kể nguồn vốn mới đang được doanh nghiệp sử dụng để đảo nợ, tái cơ cấu nghĩa vụ tài chính hoặc kéo giãn áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Giải pháp phát triển thị trường lành mạnh
Ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia Kinh tế trưởng của ADB tại Việt Nam, cho rằng để thị trường TPDN phát triển lành mạnh, cần nâng cao chất lượng xếp hạng tín nhiệm, minh bạch thông tin và cơ chế định giá nhằm giúp nhà đầu tư đánh giá đúng rủi ro và tăng thanh khoản. Hiện thị trường tồn tại nhiều mất cân đối khi phát hành chủ yếu tập trung ở ngân hàng và bất động sản, trong khi sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức như quỹ hưu trí hay bảo hiểm còn hạn chế. Thị trường thứ cấp chưa phát triển mạnh, hệ thống xếp hạng tín nhiệm và công bố thông tin vẫn ở giai đoạn đầu, khiến niềm tin nhà đầu tư chưa vững chắc.
Dù các quy định mới đã tăng cường bảo vệ nhà đầu tư và siết chặt yêu cầu với doanh nghiệp phát hành, thị trường khó phát triển chiều sâu nếu chưa mở rộng cơ sở nhà đầu tư tổ chức và đa dạng hóa sản phẩm trái phiếu phù hợp với nhiều mức độ rủi ro.
Thị trường trái phiếu đang phát hành mạnh trở lại, nhưng phía sau sự sôi động ấy là thực tế: cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp bất động sản đều phải trả giá đắt hơn để có dòng tiền. Khi chi phí vốn tăng lên, điều thị trường cần không chỉ là thêm những đợt phát hành mới. Khả năng tạo ra dòng tiền đủ thật để trả cho những khoản nợ cũ mới là thứ quan trọng nhất.



