Chất thải xây dựng (còn gọi là xà bần) hiện chiếm khoảng 10-12% tổng lượng chất thải đô thị trên cả nước; riêng tại các đô thị lớn có tốc độ đô thị hóa cao, tỷ lệ này có thể đạt 20-25%, theo các nghiên cứu. Báo cáo của Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy năm 2025, tổng khối lượng chất thải phát sinh toàn quốc khoảng 72.315 tấn/ngày, trong đó khu vực đô thị khoảng 39.153 tấn/ngày (chiếm 54%). Từ năm 2022 đến 2025, khối lượng chất thải tăng khoảng 10%, trung bình 2,5%/năm.
Nguồn gốc và thành phần chất thải xây dựng
Nguồn phát sinh chất thải xây dựng chủ yếu đến từ hoạt động phá dỡ công trình cũ; giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án phát triển đô thị, giao thông và hạ tầng kỹ thuật; xây dựng mới các công trình dân dụng, công nghiệp; cùng với sửa chữa, bảo trì công trình. Thành phần bao gồm đất đào, cát, bùn; bê-tông, bê-tông cốt thép, gạch, ngói; nhựa đường; kim loại như thép, nhôm, đồng; gỗ, kính, nhựa, cao su và các vật liệu hoàn thiện khác. Trong đó, đất đào, bê-tông, gạch chiếm tỷ trọng lớn nhất về khối lượng, trong khi thép và kim loại có giá trị tái chế cao.
Thực trạng xử lý và những vướng mắc
Phần lớn chất thải xây dựng được xử lý theo phương thức truyền thống: vận chuyển đến các bãi đổ thải, gây quá tải bãi chôn lấp, hoặc sử dụng làm vật liệu san lấp có giá trị thấp. Tỷ lệ tái sử dụng, tái chế còn thấp, dẫn đến lãng phí tài nguyên, gia tăng khai thác tài nguyên thiên nhiên và mất cơ hội giảm phát thải khí nhà kính. Theo một chuyên gia, dù đã có quy định pháp luật như Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Nghị định 209/2026/NĐ-CP, việc đưa phế thải xây dựng vào chuỗi tái chế tuần hoàn vẫn đối mặt với nhiều nút thắt.
Một là thiếu hành lang kỹ thuật: chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia để phân loại, chứng nhận chất lượng cho cốt liệu tái chế, gây tâm lý e ngại cho chủ đầu tư, nhà thầu. Hai là giá trị kinh tế thấp: chi phí vận chuyển và tập kết lớn khiến giá thành vật liệu tái chế cao hơn vật liệu tự nhiên. Ba là người dân chưa có thói quen phân loại tại nguồn.
Giải pháp hướng tới kinh tế tuần hoàn
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý: chuyển từ coi chất thải xây dựng là rác thải sang tài nguyên vật liệu thứ cấp, quy định trách nhiệm thu hồi, phân loại, tái sử dụng của chủ đầu tư, nhà thầu. Lồng ghép yêu cầu kinh tế tuần hoàn vào các chương trình cải tạo đô thị, giải phóng mặt bằng ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án.
Thứ hai, bắt buộc phân loại vật liệu từ khâu phá dỡ: chuyển từ “đập bỏ đồng loạt” sang “tháo dỡ có chọn lọc”, tách riêng bê-tông, thép, gạch, gỗ, kính trước khi vận chuyển để nâng cao chất lượng tái chế và giảm chi phí xử lý.
Thứ ba, xây dựng thị trường vật liệu tái chế, vật liệu xanh: ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; chính sách ưu tiên sử dụng vật liệu tái chế; áp dụng cơ chế mua sắm xanh, yêu cầu tỷ lệ vật liệu tái chế nhất định trong các dự án sử dụng vốn ngân sách.
Thứ tư, hình thành hạ tầng tái chế tập trung: các trung tâm tái chế thực hiện nghiền bê-tông thành cốt liệu tái chế, tái chế nhựa đường, gạch, kim loại; thúc đẩy công nghệ nghiền tại chỗ.
Thứ năm, ứng dụng công nghệ số như BIM, GIS, AI để dự báo khối lượng vật liệu phát sinh, theo dõi dòng vật liệu tái chế, kết nối cung-cầu trên thị trường vật liệu thứ cấp.
Thứ sáu, tăng cường chế tài xử lý vi phạm: hoàn thiện chế tài đối với hành vi đổ thải trái phép, không phân loại tại nguồn; ứng dụng công nghệ số trong giám sát; áp dụng cơ chế buộc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại môi trường, công khai thông tin vi phạm.
Động lực từ tín chỉ carbon
Việc nghiên cứu cơ chế tín chỉ carbon cho vật liệu tái chế là hướng đi cần được quan tâm. Chất thải xây dựng nếu được tái chế thay vì chôn lấp sẽ giảm áp lực lên quỹ đất, ô nhiễm môi trường, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, giảm tiêu hao năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính. Nguồn thu từ tín chỉ carbon sẽ tạo thêm động lực kinh tế cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ tái chế, hình thành thị trường vật liệu tái chế, thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn trong xây dựng.



