Khu vực phía đông tỉnh Lâm Đồng có 37 hồ chứa thủy lợi, gồm 17 hồ lớn, 10 hồ vừa và 10 hồ nhỏ, do Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình thủy lợi Bình Thuận (Công ty thủy lợi Bình Thuận) quản lý. Các hồ này cấp nước cho hơn 113.000ha đất nông nghiệp và 46 triệu m3 nước sinh hoạt, dịch vụ, công nghiệp mỗi năm. Tuy nhiên, do khai thác lâu năm mà chưa được nạo vét, lòng hồ bị bồi lắng nghiêm trọng, làm suy giảm dung tích chứa nước, ảnh hưởng đến cấp nước mùa khô và điều tiết lũ mùa mưa.
Hồ Ba Bàu điển hình bồi lắng kéo dài
Hồ Ba Bàu (xã Hàm Thạnh) là một ví dụ điển hình. Dù mùa mưa lượng nước thượng nguồn đổ về lớn, nhưng khu vực giữa hồ vẫn lộ ra bãi cát khổng lồ. Theo thiết kế, hồ cung cấp nước tưới cho 3.250ha đất canh tác, cấp nước cho khu công nghiệp Hàm Kiệm 2,63 triệu m3/năm và nước thô sinh hoạt cho 120.000 người dân. Hiện hồ cần nạo vét diện tích 495.414 m2, tương đương khối lượng 990.828 m3 nước. Tình trạng này gây thiếu hụt nước tưới cho các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam vốn đã hạn hán.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Minh, sau khi kiểm tra thực tế, cho biết hồ Ba Bàu đã bồi lắng khoảng 10 năm nay nhưng chưa được nạo vét, cản trở phát triển kinh tế-xã hội khu vực.
Nhiều hồ lớn khác cũng bồi lắng nặng
Không chỉ hồ Ba Bàu, nhiều hồ lớn khác cũng bị bồi lắng nghiêm trọng. Hồ Đá Bạc (xã Vĩnh Hảo) cấp nước tưới 394ha và hơn 10 triệu m3/năm cho Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân, cần nạo vét khoảng 3,4 triệu m3. Hồ Núi Đất (xã Tân Hải) phục vụ 890ha đất canh tác và cấp nước thô cho nhà máy nước Tân Tiến 15.000 m3/ngày đêm, cần nạo vét 3 triệu m3. Hồ Đu Đủ (xã Hàm Thuận Nam) tưới 410ha và cấp nước sinh hoạt cho hơn 5.300 người dân, cần nạo vét 429.477 m3.
Ngoài ra, các hồ vừa và nhỏ như Song Khán, Cà Giang, Cẩm Hang, Tân Lập, Học Tám, Tà Mon, Tân Hà, Lâm trường Sông Dinh, Thiểm, Suối Trâm, Bông Dâu, Dòng, Đatrian Suối Thị, Bà Ký, Ông Xã cũng bị bồi lắng.
Hạ tầng xuống cấp và thiếu đồng bộ
Bên cạnh bồi lắng, nhiều công trình đầu mối, trạm bơm, thiết bị vận hành xuống cấp nghiêm trọng. Một số tuyến kênh vượt năng lực thiết kế do nhu cầu nước sinh hoạt tăng cao. Theo Công ty thủy lợi Bình Thuận, hệ thống quan trắc tại một số công trình chưa đồng bộ, gây khó khăn trong tích hợp dữ liệu quản lý, vận hành và dự báo nguồn nước. Dự báo khí tượng thủy văn có thời điểm chưa sát thực tế, nhất là lượng mưa, ảnh hưởng đến điều tiết hồ chứa.
Việc xây dựng bản đồ ngập lụt vùng hạ du và phương án ứng phó thiên tai còn vướng mắc do phụ thuộc phạm vi ảnh hưởng, số lượng đập, kinh phí và thẩm quyền. Ngoài ra, tình trạng lấn chiếm hành lang thủy lợi, đô thị hóa cản nước, xả rác làm giảm khả năng tiêu thoát lũ.
Nhu cầu nước tăng nhanh, điểm nghẽn phát triển
Khu vực phía đông Lâm Đồng có khí hậu khắc nghiệt, lượng mưa ít, nắng nhiều, nước thấm và bốc hơi cao. Trong khi đó, khu công nghiệp tăng công suất, sản xuất nông nghiệp mở rộng, khu dân cư mới hình thành khiến nhu cầu nước tăng nhanh, dẫn đến thiếu hụt. Đây là điểm nghẽn lớn kìm hãm phát triển kinh tế.
Ông Nguyễn Hữu Tuân, Phó Giám đốc Công ty thủy lợi Bình Thuận, kiến nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh sớm có phương án nạo vét hồ chứa bị bồi lắng để phục hồi dung tích thiết kế, nâng cao năng lực chống hạn, bảo đảm nước phục vụ dân sinh và kinh tế. Cát nạo vét có thể tận dụng làm vật liệu san lấp, cải tạo mặt bằng.
Giải pháp nạo vét và đầu tư
Theo tính toán, khu vực phía đông cần nạo vét 22 hồ với tổng diện tích 581ha, tăng thêm 11,8 triệu m3 nước. Nếu xây hồ mới với dung tích tương đương, kinh phí khoảng 185 tỷ đồng. Nạo vét lòng hồ sẽ tăng hiệu quả sử dụng đất, không phải đền bù, thu hồi đất xây hồ mới.
Ông Tuân kiến nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường xem xét chủ trương thực hiện dự án nạo vét hồ chứa, hướng dẫn đơn vị phối hợp địa phương triển khai theo phương thức đấu thầu quyền thăm dò, khai thác khoáng sản đúng quy định. Đồng thời, sở cần tham mưu UBND tỉnh bố trí kinh phí sửa chữa, nâng cấp công trình xuống cấp, đầu tư hệ thống quan trắc, cảnh báo lũ hạ du. Nhà nước sớm hỗ trợ kinh phí cắm mốc chỉ giới bảo vệ công trình thủy lợi, xây dựng bản đồ ngập lụt vùng hạ du đập – cơ sở khoa học để xây dựng phương án ứng phó thiên tai, bảo đảm an toàn công trình mùa mưa.
Các địa phương cần chủ động nạo vét kênh mương nội đồng, phối hợp ngành thủy lợi thông tin hiện trạng sản xuất nông nghiệp, diện tích đất, mặt nước đang sử dụng để lập cơ sở dữ liệu vùng tưới đồng bộ cho toàn tỉnh.



