Bí ẩn thân thế và mối quan hệ đặc biệt của Nguyễn Văn Tường với vua Tự Đức
Nguyễn Văn Tường sinh ngày 22 tháng 8 năm Giáp Thân, giờ Tuất (tức 14 tháng 10 năm 1824) và mất lúc 4 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 7 năm 1886 (29 tháng 6 năm Bính Tuất) tại thủ phủ Papeete, đảo Tahiti thuộc Pháp ở Thái Bình Dương. Theo gia phả, cha ông là Nguyễn Văn Dậu, mẹ là bà Dương Thị Liên. Ông Dậu có ba vợ và sinh được 12 người con, trong đó Nguyễn Văn Tường là con trưởng. Gia cảnh được mô tả là "hàn vi" do nhiều miệng ăn, nhưng không phải là không có nhà cửa, ruộng đất. Điều này có lẽ giải thích tại sao trong số 6 người con trai, chỉ có Nguyễn Văn Tường được ăn học đàng hoàng và đỗ đạt.
Thân thế bí ẩn và sự nghiệp khoa cử
Thuở nhỏ, cậu bé Tường nổi tiếng thông minh, ham đọc sách và lớn lên có tiếng văn hay. Năm Thiệu Trị thứ hai (1842), ông lần đầu lên kinh thi hương ở trường Thừa Thiên và đậu tú tài. Tuy nhiên, khi duyệt danh sách, nhà vua phát hiện một thí sinh mang họ hoàng tộc Nguyễn Phước Tường, nên giận dữ sai gạch bỏ tên và buộc đổi thành Nguyễn Văn Tường.
Xét gia phả, từ đời thứ nhất đến đời thứ sáu (ông Nguyễn Văn Dậu) không có ai mang họ Nguyễn Phước. Các đời đầu lót chữ Thế, còn đời thứ năm và sáu lót chữ Văn. Câu hỏi lớn đặt ra là tại sao ông Tường lại dùng tên Nguyễn Phước Tường để đi thi. Bản án của Viện Đô sát không được ghi lại trong Đại Nam thực lục, và lý do vua Tự Đức giảm án cũng không rõ ràng. Chính đương sự không để lại manh mối nào, và con cháu ông cũng không chính thức giải thích nguyên nhân.
Trong các cuộc chuyện trò gia đình, người ta đồn đoán rằng ông là con rơi của hoàng tử Miên Tông, sau này là vua Thiệu Trị. May mắn thay, vua Thiệu Trị mất năm 1847, và vua Tự Đức đã giảm án, cho phép Nguyễn Văn Tường thi hương. Ông đỗ cử nhân năm 26 tuổi, mở ra một chương mới trong cuộc đời.
Mối quan hệ tri kỷ với vua Tự Đức
Nguyễn Văn Tường chân thành đáp lại sự tin cậy của vua Tự Đức. Ông luôn bày tỏ tình cảm thiết tha, lòng hàm ân và sự cảm thông sâu sắc với nhà vua về những lo buồn vận nước và nỗi buồn riêng tư. Ông hứa sẽ tận lực phụng sự vua và đất nước.
Tám năm vận hạn từ 1842 đến 1850 là thời gian Nguyễn Văn Tường tiềm dưỡng, trưởng thành hơn. Ông bắt đầu sự nghiệp từ chức Tri huyện Thành Hóa khiêm tốn ở Quảng Trị, nhưng trên hết là cuộc hội ngộ vua tôi đặc biệt.
Quan hệ giữa Tự Đức và Nguyễn Văn Tường thực sự vượt xa quan hệ vua tôi thông thường. Vua Tự Đức rất tin dùng ông, có thể bàn bạc mọi băn khoăn, suy nghĩ. Ngược lại, Nguyễn Văn Tường có thể nói thẳng những ý kiến về việc nước mà không sợ bị quy tội bất kính. Vua gọi đây là "tri ngộ", còn ông coi đó là "hạnh ngộ". Theo Tộc phả họ Trương Đăng, chính Trương Đăng Quế đã phát hiện tài năng của Nguyễn Văn Tường và đề nghị xóa án cho ông.
Trong một bản tấu năm 1868, vua Tự Đức viết: "Chức tước của khanh là do ân mệnh. Là bởi nghĩ đến ngày xưa siêng năng, lao nhọc, được ơn tri ngộ, chứ không phải tầm thường... mỗi khi có hỏi han gì, khanh từng cảm kích, ứa nước mắt, ta cho là ý khí càng hợp nhau". Chính vì "ân tri ngộ" và "ý khí cùng hợp nhau" mà vua căn dặn Nguyễn Văn Tường không được ngại ngùng khi phản ánh trung thực mọi điều cho vua.
(Trích từ sách "Góp nhặt tìm hiểu lịch sử Việt" của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc, do NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành)



