Ba cô là người đàn ông ít nói. Vài tháng ông mới về thăm nhà một lần, có khi nửa năm mới thấy bóng dáng quen thuộc ấy. Những ngày đầu hè, khi những chùm hoa ô môi đầu tiên bung nở rực rỡ trên nền trời xanh, ông trở nên hoạt bát và nói cười nhiều hơn. Ông thường đứng dưới gốc cây, ngửa mặt lên hái từng chùm trái đeo lủng lẳng. Mẹ cô bày chiếc bàn nhỏ dưới tán cây, vừa ngồi bóc từng múi ô môi đen nhánh, vừa lắng nghe những câu chuyện về miền Tây xa xôi – nơi loài cây ấy đã theo chân ba về cắm rễ giữa mảnh vườn nhà.
Những buổi chiều thơ bé, cô cùng đám bạn chuyền tay nhau những trái ô môi cong cong như vầng trăng non, nhai lớp cơm dẻo ngọt đến dính cả đầu lưỡi. Tiếng cười vang dưới tán hoa rơi lả tả. Mùa ô môi năm nào cũng giống như một mùa cổ tích – căn nhà nhỏ nghèo nhưng đầy ắp tiếng cười, mùi chè ô môi mẹ nấu thơm lừng, và bóng ba cao gầy in dài trong nắng xế.
Cô từng nghĩ ra cách lần lượt bỏ từng ngày đã qua vào trong một cái lu, trong trí tưởng tượng của mình. Lâu ngày, cái lu lên men ẩm mốc sau vườn nhà. Mẹ hỏi: “Có mùi gì lạ thế con?” Cô không biết: “Con cũng nghe có mùi lạ.” Ký ức thầm thì vào tai cô: “Bạn lấy nó ra dùng trong bữa trưa nay nhé, men đã đượm mùi.”
Con bửa củi và những điều may mắn
Sáng nay, con bửa củi màu đen bóng loáng vẫn nằm gọn trong hộp diêm. Cô bảo: “Mày hết tóc tóc rồi à, đừng có giả chết nhé, tao biết tỏng mày giỏi giả vờ.” Nhưng con bửa củi cứ nằm đơ cứng, cong oằn. Cô cầm nó lên, khớp cổ đã không còn mềm nữa. Con bửa củi đã chết. Mẹ cô từng bảo: “Bắt được bửa củi là may mắn lắm con ạ, con sẽ được lộc.” Ngày đó, cô có một điểm mười đỏ chói của cô giáo môn hình học, khi cô đang học lớp bốn.
Trở về ngôi nhà tuổi thơ
Cô chìa đôi tay trắng ngần mềm mại ra để hé mở cánh cửa. Ngoài kia là cây ô môi ngày xưa ba mang từ miền Tây về. Ba bảo ở miền Tây có nhiều cây này lắm, còn ngoài này chưa ai trồng. Bây giờ chưa đến mùa chín trái, những chùm quả còn lủng lẳng xanh. Mùi cỏ cây dịu nhẹ phảng phất, cô thấy buồn ngủ. Đã mấy hôm nay cô chưa rời khỏi căn phòng, mắt cứ trao tráo nhìn lên trần nhà, chờ tin vui từ bác sĩ. Bệnh trầm cảm của cô có vẻ thuyên giảm sau mười mấy năm. Giờ đây cô quay về ngôi nhà thời thơ ấu.
Ngoài kia, mảng trời lấp ló những sợi nắng mỏng manh trên khoảng sân nhỏ. “Nhanh lên… vào đây đi!” – cô nghe tiếng Suyra, bạn cô, gọi. Đôi chân cô chập chờn, hôm nay cô mặc bộ áo quần hoa vàng li ti, bộ đồ bằng vải phin thô dày mà mẹ may từ năm ngoái. Mơ hồ quá, cô thấy mùi hỗn độn ngập ngụa khắp căn phòng. Cô nhức mắt, ngồi bật dậy, tìm kiếm một thứ mùi mà cô chẳng nhớ ra. Chợt cô nhớ đến luận văn đang viết dở. Cô lo lắng: ở đây không có internet, cô không mang theo laptop, phải viết tay và chỉnh sửa. Còn hai tuần nữa cô phải gửi đề cương cho người hướng dẫn.
Ký ức về con bửa củi
Cô loay hoay với cây viết bị tắc mực, bực bội vô cùng. Cô nhìn ra vườn, quả bồ quân vẫn còn xanh. “Bóc… bóc…” – một con bửa củi. Cô nhớ ra, đã lâu cô quên nó, cố quên nó khi thấy nó cùng rất nhiều con bửa củi nằm trong thẩu rượu của chồng. Nghe đâu anh ấy phải đặt hàng từ xa, mấy tháng sau mới nhận được. Ngày ấy, cô rùng mình khi mở cửa vào nhà, có mùi gì thật lạ mà lại quen. Mỗi bữa ăn, anh ấy uống một ly rượu, cô có cảm giác ớn lạnh chảy dài theo cuống họng. Cô thấy mình không mở miệng ra được. Đêm ấy, cô mơ về cái đốt cổ của con bửa củi bị đơ.
Cuộc sống hiện tại và nỗi ám ảnh
Ngày tháng trôi qua rạch ròi với cô trong những tờ lịch bị xé đi. Cuộc sống thật bận rộn, nhiều lúc cô không thở nổi. Hai vợ chồng kẻ xuôi người ngược suốt tám năm nay, họ đồng ý với nhau và khất lần đến lãng quên chuyện có con. Riêng cô thì đã hãi sợ cảnh nheo nhóc với lũ trẻ con như những đứa bạn. Cô cứ tung tăng, thung dung, ai cũng bảo cô trẻ quá. Nhất là mẹ cô.
Tiếng càu nhàu vọng lên từ phía bếp: “Nó lại không ăn uống gì con à, hôm qua tới giờ…” – mẹ cô nói với tiếng thở dài. Cô nghe loáng thoáng bước chân xa dần. Cô hé cửa nhiều hơn, nhìn ra phía ngõ. Cây ô môi đã đâm những nụ hoa li ti màu hồng. Năm nay thân cây sần sùi, mấy lần bão định trốc gốc nhưng nó trụ lại rất giỏi. Ba bảo trái nó màu đen nên gọi là ô, cơm trái dẻo như thịt nên gọi là môi (như những miếng môi cơm). Những cành cây chằng chịt vào nhau. Cô đang đợi mùa hoa và chờ đến đêm, lũ bửa củi trong hốc cây sẽ bay vào phòng cô. “Hốc cây ở đó có rắn đấy, con đừng leo lên nhé” – ba cô từng dặn. Cô nghĩ, chắc trong ấy có nhiều rắn độc thích côn trùng, chúng đang nằm chờ săn những con bửa củi.
Nghi lễ xua tà
“Ra đây con” – mẹ cô lay dậy lúc trời đã quá chiều. Cô uể oải đi theo mẹ ra sau vườn, chỗ đất trống. Cô thấy một cái thau nhôm cũ đang nghi ngút khói. Mẹ bảo: “Con bước qua về trên cái thau đi, khói này sẽ xua tà sắc nơi con.” Cô nghe mùi thơm của cỏ tràm, mùi vàng giấy, mùi hăng hắc quyện vào mũi. Cô hắt xì liên tục, mắt nhòe đi. “Tóc… tóc…” – cô nghe tiếng con bửa củi rất gần bên tai. Cô đưa tay bắt, nó búng thật nhanh, “póc” – nó biến mất. Cô hớt hải nhìn quanh, chẳng thấy nó đâu. Mẹ cô nói: “Khoan đã con, con chỉ mới bước qua sáu lần, còn ba lần nữa, tiếp tục đi con…”
Cô không nghe, cô cứ mãi tìm con bửa củi. Nó sẽ mang lại cho cô lộc, cô sẽ có con. Không như vị bác sĩ kia bảo cô vô sinh vì uống thuốc tránh thai quá lâu, bị buồng trứng đa nang, rất khó có con. Mẹ cô thì bảo cô bị vướng cõi âm, phải xua tẩy cái màu xám đen ẩn hiện trước trán thì mới sinh con được. Cô ngoan ngoãn nghe lời mẹ. Đã hơn hai tháng cô ở đây.
Mùa ô môi năm nay
Năm nay, gió bấc về hơi lành lạnh. Cây ô môi đã rụng hết lá, cô bắt đầu thấy từng nụ hồng hồng nhú dần ra từ phía trên cao. Cô nhớ vỏ ô môi cứng lắm, cong như vành trăng lưỡi liềm màu đen, như cái cánh cứng của con bửa củi – cô thầm thì – màu nâu đen chứ, đường gân chạy dài từ đầu đến cuống trái. Cha cô ngày ấy thường dùng móc sắt để hái. Múi ô môi đen nhánh, tròn tròn như đồng xu. Mẹ con cô thường ngồi ngoài bàn đá mà bóc, cơm trái trắng nõn, mẹ nấu món chè thật đặc biệt.
Năm nay mẹ nói: mấy năm nay không đậu được quả ô môi nào, mẹ không nấu món chè ấy cúng cho ba con. Cây đã quá già, cũng phải, biết bao sâu bọ, côn trùng bay vào ở đấy, cả lũ rắn nữa. Đêm, hai bóng đen của hai mẹ con kéo dài. Gần giờ Tý, mẹ lay cô dậy, dắt ra trước sân, gần cây ô môi. Mẹ bảo: “Con đội chín cây nhang này khấn đi nhé, hãy khấn điều con ước nguyện, còn mẹ sẽ đốt mấy hình nộm này.” Cô thấy nhiều hình nộm lắm, có cái nhìn như cô, mấy cái kia như đám trẻ con. Nó nhìn cô hay sao ấy, cô thấy buồn nôn. Mẹ bảo: “Hay là con bị gió? Thôi con khấn nhanh mà vào nhà đi, để mẹ đốt nó đi.”
Cô nhìn chúng bị cháy dần, cho đến khi những hình nộm cong queo như chiếc xương bằng tre bên trong, gãy cổ và rơi sụp xuống. Một đống hỗn độn màu đen nghi ngút khói. Cô lảo đảo đi vào nhà, chóng mặt.
Buổi sáng muộn
Buổi sáng thật muộn, mẹ cô đã từ ngoài cổng bước vào, mang theo nhiều thứ ở quê. Cô mơ hồ nhớ loại cá mình thích, lại có cảm giác buồn nôn. Mẹ bảo để mẹ nấu canh lá vông với cá diếc cho cô húp ít nước, tại cô ít vận động, lười ăn nên bị trào ngược dạ dày. “Sáng nay chồng con có gọi về không mẹ?” – cô hỏi. “Có con ạ, nó bảo cũng đang về tận miền biển, nơi có nhiều đầm phá nuôi trồng rau câu để làm hợp đồng thu mua xuất sang Hàn Quốc.”
Cô nói với mẹ, giọng thở dài: “Không biết con có khá lên được không.” “Sẽ khá hơn con à, rồi con sẽ khỏe, ở với mẹ ít hôm, mẹ chăm. Ở thành phố hoài bụi bặm, xe cộ, công việc cứ tù mù. Ráng ăn chút đi con nhé, xong rồi con đi bộ mà chơi. À, con bé bạn con, Suyra, cả nhà nó có về thăm nhà đấy, nó vừa về hôm qua.” Cô không nhìn mẹ, không biểu hiện gì, chỉ ngước nhìn cây ô môi. Hoa hôm nay đã lớt phớt hồng. “Có vẻ năm nay cây nhiều hoa hơn và chắc đậu nhiều trái mẹ nhỉ?” – cô nói, mắt chăm chú nhìn vào khoảng không.
Chiều tà
Chiều nay gió lặng, cô bước lững thững ra vườn sau. Những chiếc lu ngày xưa cô hay chơi trốn tìm với ba vẫn còn yên vị đấy, những cái lu bỏ không. Cô thò một chân, định ngồi vào, cô muốn trốn, trốn con bửa củi tội nghiệp kia. Nó cứ gõ “tóc… tóc…” bên tai cô. Nhưng bây giờ cô không chui lọt vào được, cô cảm thấy bất lực, năm tháng đã không thuộc về sở hữu của cô. Cô rùng mình, tê sống lưng, cổ cô cứng đơ như con bửa củi. Cô cất tiếng gọi: “Mẹ ơi, cứu con!”



