Xứ Lạng tự hào sở hữu một nền văn hóa dân gian phong phú và đa dạng, với nhiều loại hình nghệ thuật độc đáo được lưu truyền qua các thế hệ. Nơi đây là cái nôi của các điệu hát Then đàn tính, hát Sli, múa sư tử mèo của đồng bào Tày, Nùng; hát Páo dung của người Dao; cùng những làn điệu dân ca mộc mạc của đồng bào H’Mông đen (Tú sỉ Na Miẻo). Trong đó, di sản “thực hành Then” của người Tày, Nùng Lạng Sơn nổi bật như một hình thức diễn xướng dân gian, vừa phản ánh đời sống tâm linh sâu sắc, vừa gắn bó mật thiết với sinh hoạt văn nghệ cộng đồng.
Di sản Then và Sli: Những viên ngọc quý của văn hóa dân gian
Hiện nay, toàn tỉnh Lạng Sơn có hơn 600 nghệ nhân đang thực hành Then, trong đó 34 người đã được vinh danh là Nghệ nhân Nhân dân và Nghệ nhân Ưu tú. Họ hoạt động trong hai lĩnh vực chính: thực hành tín ngưỡng và nghệ thuật trình diễn dân gian. Nghệ nhân Nhân dân Hà Mai Ven, đến từ xã Đồng Đăng, chia sẻ: “Điểm đặc sắc của Then nằm ở ngôn ngữ giàu tính văn hóa. Các khúc hát Then toát lên tư tưởng nhân văn sâu sắc, thể hiện tình yêu thiên nhiên, tình cảm đôi lứa, nghĩa vợ chồng, đạo lý làm người và lòng yêu quê hương làng bản.”
Khác với hát Then, hát Sli gắn bó mật thiết với sinh hoạt thường nhật của đồng bào Nùng. Trong tiếng Nùng, “Sli” có nghĩa là “thơ”, và đây là hình thức hát giao duyên đối đáp giữa nam và nữ qua những câu thơ trữ tình. Sli bao gồm ba lối hát cơ bản: hát nói (đọc thơ), xướng Sli (ngâm thơ) và dằm Sli hoặc nhằm Sli (lên giọng hát). Tại Lạng Sơn, các tộc người Nùng như Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Inh và Nùng An đều có những phong cách Sli riêng biệt, tạo nên sự đa dạng văn hóa độc đáo.
Công nhận di sản và sức sống cộng đồng
Năm 2019, hát Sli của người Nùng tỉnh Lạng Sơn đã chính thức được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Vào các dịp lễ, Tết hay sự kiện lớn, không khó để bắt gặp những cuộc giao lưu Sli sôi nổi giữa đồng bào Nùng tại trung tâm tỉnh, minh chứng cho sức sống bền bỉ của di sản này trong nhịp sống hiện đại.
Tín ngưỡng thờ Mẫu: Sự hòa quyện văn hóa độc đáo
Theo các tài liệu lịch sử, tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện ở Lạng Sơn từ khoảng cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, thông qua quá trình giao lưu và tiếp nhận với các tín ngưỡng dân gian bản địa. Sự di cư và giao thương của người Kinh đã mang theo tín ngưỡng này lên vùng đất này. Ngày nay, tín ngưỡng thờ Mẫu đã hòa quyện sâu sắc vào đời sống văn hóa tâm linh của người dân Lạng Sơn, song hành cùng các tín ngưỡng bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tân Văn, chuyên gia cao cấp về Công viên địa chất, nhận định: “Lạng Sơn từ lâu đã là vùng đất thuận lợi cho hoạt động kinh tế biên mậu. Các biến thiên lịch sử đã dẫn đến quá trình người Việt (Kinh) lên định cư, mang theo tín ngưỡng của mình và tạo nên sự giao thoa văn hóa phong phú.” Tại đây, nhiều di tích như đền Bắc Lệ, đền Mỏ Ba, và đền Suối Ngang thờ phụng các vị thần linh trong hệ thống Tứ phủ, đã đi vào lời ca chầu văn sống động.
Danh sách di sản và giá trị nội sinh
Lạng Sơn hiện sở hữu chín di sản được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, cùng hai di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại: thực hành Then của người Tày, Nùng và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt. Những giá trị văn hóa dân gian này không chỉ là niềm tự hào của người dân xứ Lạng, mà còn chứa đựng nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, góp phần định hình bản sắc vùng miền.
Chiến lược bảo tồn gắn với phát triển du lịch
Tỉnh Lạng Sơn đã xác định rõ mục tiêu bảo đảm sự hài hòa giữa công tác gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian với phát triển du lịch, từ đó tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội. Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, ông Nguyễn Đặng Ân, cho biết: “Từ năm 2016 đến nay, tỉnh đã triển khai nhiều dự án và đề án hiệu quả, như Kế hoạch bảo tồn trang phục truyền thống với kinh phí khoảng 35,3 tỷ đồng, và Đề án bảo tồn múa sư tử dân tộc Tày, Nùng giai đoạn 2021-2030.”
Ngoài ra, tỉnh cũng ban hành Kế hoạch bảo tồn dân ca, dân vũ, dân nhạc gắn với phát triển du lịch, với tổng kinh phí hơn 80 tỷ đồng. Thông qua Dự án 6 của Chương trình mục tiêu quốc gia, Lạng Sơn đã thành lập 12 câu lạc bộ văn nghệ quần chúng, truyền dạy kiến thức và thực hành các loại hình văn hóa dân gian, nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng.
Tận dụng Công viên địa chất toàn cầu
Việc Công viên địa chất Lạng Sơn được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu đã mở ra cơ hội mới cho phát triển văn hóa và du lịch. Tỉnh đặt mục tiêu bảo quản, tu bổ ít nhất năm di tích mỗi năm, tổ chức ba lớp truyền dạy văn hóa phi vật thể, và phục dựng các lễ hội truyền thống để xây dựng sản phẩm du lịch độc đáo.
Ông Hoàng Xuân Thuận, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh, chia sẻ: “Chúng tôi đã xây dựng các tuyến du lịch với chủ đề ‘Dòng chảy sự sống nơi miền đất thiêng’, kết nối các địa điểm tiêu biểu về lịch sử tiến hóa, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, và cảnh quan thiên nhiên. Các tuyến này chủ yếu đi qua trục Quốc lộ 1A, 1B, 4B và 279, thuận tiện cho du khách.”
Định hướng tương lai từ Nghị quyết chiến lược
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam được coi là quyết sách chiến lược quan trọng, khuyến khích các địa phương khai thác nguồn lực nội sinh để phát triển văn hóa bản địa. Để thực hiện hiệu quả, Lạng Sơn cần chuyển hóa quyết tâm chính trị thành chính sách cụ thể, bố trí nguồn lực hợp lý, và coi việc bảo tồn văn hóa là trách nhiệm chung của mọi cán bộ, đảng viên và người dân.
Với những nỗ lực không ngừng, Lạng Sơn đang từng bước biến các di sản văn hóa dân gian thành động lực phát triển bền vững, góp phần quảng bá hình ảnh một vùng đất giàu truyền thống và tiềm năng du lịch đến với bạn bè trong nước và quốc tế.



