Sâm Lai Châu không chỉ là dược liệu quý hiếm mà còn là sản phẩm OCOP 4 sao, đóng vai trò cầu nối giữa bảo tồn thiên nhiên và sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số. Loại cây đặc hữu này đang từng bước khẳng định vị thế thương hiệu của tỉnh Lai Châu.
Mô hình trồng sâm dưới tán rừng gắn với cộng đồng
Giữa những dãy núi trùng điệp của Lai Châu, nơi mây phủ quanh năm và những cánh rừng nguyên sinh vẫn giữ vẻ hoang sơ, các vườn sâm đang âm thầm sinh trưởng dưới tán rừng già. Phần lớn người dân ở vùng đất biên giới này là đồng bào dân tộc thiểu số, cuộc sống từ bao đời gắn với nương ngô, ruộng lúa và rừng núi. Sự xuất hiện của cây sâm Lai Châu đã mang đến hướng đi mới, vừa tạo nguồn thu nhập vừa góp phần bảo vệ những cánh rừng đầu nguồn.
Hợp tác xã nông nghiệp bản địa Thu Ka đang kiên trì theo đuổi mô hình này. Bà Tăng Thị Phương Thanh - Giám đốc hợp tác xã cho biết, phần lớn diện tích trồng sâm được thực hiện cùng cộng đồng địa phương, với bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hợp tác xã không chỉ liên kết với từng hộ dân riêng lẻ mà phối hợp với cộng đồng dân cư tại bản Thu Lũm, xã Thu Lũm để phát triển vùng trồng sâm dưới tán rừng theo các phương án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Bảo vệ rừng và sinh kế bền vững
“Sâm Lai Châu được trồng dưới tán rừng tự nhiên nên việc phát triển cây sâm luôn gắn liền với công tác bảo vệ rừng và sinh kế của đồng bào bản địa”, bà Thanh chia sẻ. Mỗi củ sâm lớn lên dưới tán rừng cũng đồng nghĩa với việc những cánh rừng được giữ gìn tốt hơn. Người dân có thêm động lực để gắn bó với rừng, bảo vệ rừng bởi chính khu rừng ấy đang trở thành nguồn sinh kế cho gia đình và cộng đồng.
Trước đây, bà con chủ yếu trồng lúa nương, trồng ngô với giá trị kinh tế hạn chế. Khi tham gia chuỗi liên kết phát triển sâm, người dân có thêm việc làm từ chăm sóc, bảo vệ vùng trồng và tham gia các hoạt động liên quan. Đặc biệt, cộng đồng địa phương còn được hưởng lợi từ hoạt động thương mại của sản phẩm; một phần lợi nhuận được trích lại để hỗ trợ cộng đồng tham gia bảo vệ và phát triển vùng nguyên liệu.
Xây dựng thương hiệu và truy xuất nguồn gốc
Theo bà Thanh, đối với các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là đặc sản địa phương, truy xuất nguồn gốc là yêu cầu sống còn. Các đơn vị muốn trồng sâm dưới tán rừng phải xây dựng phương án quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, phê duyệt. Toàn bộ các vùng trồng sâm của hợp tác xã đều được cấp mã số vùng trồng và được các cơ quan chức năng quản lý, giám sát.
Song song đó, hợp tác xã đầu tư xây dựng bao bì với hình ảnh nhận diện riêng, thiết kế mang đậm dấu ấn núi rừng Lai Châu và vùng nguyên liệu. Câu chuyện văn hóa của người dân gắn bó với cây sâm được đưa lên sản phẩm, giúp người tiêu dùng hình dung cuộc sống của đồng bào vùng cao. Đây là yếu tố quan trọng giúp sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 4 sao và duy trì suốt nhiều năm qua.
Mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và 2035
Ngày 19/5/2024, Tỉnh ủy Lai Châu ban hành Nghị quyết số 17-NQ/TU về phát triển sâm Lai Châu giai đoạn 2024-2030, định hướng đến năm 2035. Mục tiêu đến năm 2030, sản lượng khai thác sâm Lai Châu đạt khoảng 30 tấn mỗi năm, bảo đảm nguồn gốc xuất xứ và đạt tiêu chuẩn GACP-WHO hoặc tương đương. Đến năm 2035, sâm Lai Châu cùng với sâm Việt Nam sẽ trở thành ngành hàng mang thương hiệu quốc gia, có giá trị xuất khẩu cao, hướng tới thương hiệu quốc tế.
Sâm Lai Châu là loài sâm Việt Nam quý hiếm, phân bố hẹp trên địa bàn tỉnh, được đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng từ lâu đời. Hàm lượng saponin trong sâm Lai Châu đạt tới 23,85% trong tự nhiên, chứa tới 70 loại saponin quý. Toàn tỉnh có hơn 488.632ha đất rừng, tỷ lệ che phủ rừng đạt 54%, với hơn 70% dân số gắn liền với rừng, tạo nền tảng phát triển cây sâm thành ngành hàng chủ lực.
Kết quả bước đầu và thách thức
Sau gần hai năm triển khai Nghị quyết số 17-NQ/TU, tỉnh đã đạt kết quả tích cực: 23 tổ chức cùng 217 hộ gia đình, cá nhân tham gia trồng sâm Lai Châu với diện tích hơn 140 ha; khoảng 70% diện tích trồng dưới tán rừng; 112 cơ sở được cấp mã số cơ sở trồng sâm. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học về sâm chưa toàn diện, sản phẩm chế biến còn hạn chế, chưa có sản phẩm chế biến sâu mang tính đột phá, thương hiệu còn yếu, thị trường tiêu thụ chưa định hình rõ ràng và kênh phân phối nhỏ lẻ.
Các doanh nghiệp, hợp tác xã như Thu Ka kỳ vọng nhiều hơn vào sự đồng hành của cơ quan quản lý, chương trình xúc tiến thương mại và hoạt động quảng bá sản phẩm. Với sản phẩm OCOP 4 sao, hành trình từ những cánh rừng biên viễn đến thị trường rộng lớn cần sự chung tay của cả hệ sinh thái phát triển, để sâm Lai Châu trở thành biểu tượng của bảo tồn thiên nhiên, gìn giữ tri thức bản địa và sinh kế bền vững cho đồng bào vùng cao.



