Nguy cơ cháy nổ từ pin lưu trữ điện mặt trời
Sau làn sóng lắp đặt điện mặt trời áp mái, nhiều hộ gia đình tại Việt Nam đang đối mặt với nỗi lo cháy nổ từ pin lưu trữ lithium-ion. Theo thống kê của Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ (PCCC), trong năm 2023, cả nước xảy ra ít nhất 12 vụ cháy liên quan đến hệ thống pin lưu trữ năng lượng, tăng gấp đôi so với năm trước.
Nguyên nhân và rủi ro
Pin lithium-ion dùng trong lưu trữ điện mặt trời có nguy cơ cháy nổ cao do hiện tượng thoát nhiệt (thermal runaway). Khi pin bị quá tải, đoản mạch hoặc hư hỏng cơ học, nhiệt độ bên trong tăng đột biến, gây cháy lan nhanh. PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia về năng lượng tái tạo tại Đại học Bách khoa Hà Nội, cho biết: 'Pin lithium-ion khi bị cháy rất khó dập tắt vì tự sinh oxy, cần có biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt.'
Thực trạng lắp đặt thiếu an toàn
Hiện nay, nhiều hộ dân lắp pin lưu trữ trong nhà ở, thậm chí để gần vật dụng dễ cháy. Khảo sát của Viện Năng lượng cho thấy 65% hệ thống pin lưu trữ tại các hộ gia đình không được lắp đặt theo tiêu chuẩn an toàn PCCC. Đại tá Trần Văn Sơn, Cục trưởng Cục PCCC, nhấn mạnh: 'Người dân cần tuân thủ khoảng cách an toàn tối thiểu 1 mét giữa pin và các vật liệu dễ cháy, đồng thời trang bị hệ thống báo cháy tự động.'
Khuyến cáo và giải pháp
Các chuyên gia khuyến cáo người dân chỉ mua pin có chứng nhận chất lượng, lắp đặt ở khu vực thông thoáng, tránh ánh nắng trực tiếp và nhiệt độ cao. Định kỳ kiểm tra hệ thống, không tự ý sửa chữa. Cơ quan chức năng cũng đang xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lắp đặt pin lưu trữ điện mặt trời, dự kiến ban hành trong năm 2025.
Tác động đến cộng đồng
Nỗi lo cháy nổ khiến nhiều gia đình cân nhắc trước khi đầu tư pin lưu trữ. Theo số liệu từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), lượng pin lưu trữ bán ra trong quý I/2024 giảm 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng năng lượng tái tạo vẫn tăng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về an toàn. 'Chúng ta không thể từ bỏ năng lượng sạch, nhưng phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người dân,' ông Nguyễn Văn Hùng kết luận.



