Trà Hương Quê Phú Lương: Từ Nương Chè Đến Thị Trường Quốc Tế
Giữa những triền đồi xanh mướt của xã Hợp Thành, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, cây chè đã trở thành biểu tượng của vùng đất này. Nơi đây, sản phẩm trà Hương Quê của Hợp tác xã Nông sản Phú Lương nổi bật như một trong những sản phẩm OCOP 5 sao tiêu biểu, mang theo ước mơ lớn của chàng trai người Tày Tống Văn Viện.
Khởi Nguồn Từ Vùng Đất Trái Tim Xanh
Vào một buổi sớm tháng tư, khi ánh nắng tinh khôi lấp lánh và hạt sương mai còn đọng trên những búp chè non, không khí ở xóm Khau Lai, xã Hợp Thành thật trong lành. Gió núi nhẹ nhàng mang theo hương chè thơm ngai ngái, vừa mộc mạc vừa quyến rũ. Trên các triền đồi, hình ảnh các bà, các cô, các chị cười đùa trong khi tay vẫn mải mê hái những búp chè xanh mơn mởn thật bình yên. Người Phú Lương vẫn thường nói vui: “Chè ở đây uống vào là nhớ”. Nhớ bởi vị chát dịu đầu môi, rồi lắng lại thành vị ngọt thanh sâu nơi cuống họng. Nhớ bởi hương thơm thoảng mùi cốm non, phảng phất chút phù sa của sông Cầu và sự tinh khiết của đất trời.
Cây chè đã bén rễ nơi này từ năm 1945, qua thời gian trở thành cây trồng chủ lực, là sinh kế, văn hóa và ký ức của bao thế hệ. Hiện nay, toàn xã có hơn 4.100ha chè, sản lượng đạt hàng chục nghìn tấn mỗi năm, đóng góp tới 35% giá trị sản xuất nông nghiệp địa phương. Cây chè không chỉ là nguồn sống cho bà con bản địa, mà còn hỗ trợ nhiều đồng bào dân tộc thiểu số.
Hành Trình Đổi Mới Của Người Con Dân Tộc Tày
Giữa vùng chè rộng lớn, Hợp tác xã Nông sản Phú Lương nổi lên như một điểm sáng nhờ sự dẫn dắt của ông Tống Văn Viện. Là người dân tộc Tày, ông Viện bắt đầu gắn bó với chè từ thời sinh viên. Sau hơn một thập kỷ, ông đã xây dựng thành công một hệ sinh thái sản xuất-chế biến-tiêu thụ bài bản.
Ông Viện chia sẻ: “Từ nhiều đời nay, cây chè là nguồn sống chính của gia đình tôi và nhiều hộ dân. Nhưng do sản xuất dựa vào kinh nghiệm truyền thống, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật nên năng suất và chất lượng chưa cao, giá trị mang lại còn hạn chế. Sản phẩm chủ yếu tiêu thụ qua thương lái nhỏ lẻ, giá bấp bênh, khiến đời sống người dân khó khăn.”
Trăn trở trước thực tế đó, ông Viện nuôi khát vọng thay đổi. Thời còn là sinh viên, mỗi lần từ quê lên thành phố, chàng trai trẻ này lại mang theo những túi chè quê nhà để giới thiệu và bán cho bạn bè. Từ những trải nghiệm thực tế, kết hợp tự học hỏi qua Internet và trao đổi với bạn bè, ông nhanh chóng tiếp cận phương thức kinh doanh mới. Ông chủ động xây dựng kênh bán hàng trực tuyến, từng bước đưa sản phẩm chè quê hương tiếp cận thị trường rộng lớn hơn.
Năm 2013, sau khi xây dựng được nền tảng phân phối riêng, ông Viện quyết định trở về quê, mang theo tư duy đổi mới để nâng tầm giá trị cây chè. Ông tham gia các khóa học về nông nghiệp và kinh doanh, tích lũy thêm kiến thức và kỹ năng quảng bá sản phẩm.
Chinh Phục Thị Trường Với Chất Lượng OCOP 5 Sao
Tháng 2/2026, chè Phú Lương vinh dự là sản phẩm đầu tiên được Bộ Công Thương hỗ trợ tiêu thụ thông qua chương trình “Sức sống hàng Việt” số đầu tiên. Đây là cơ hội để các sản phẩm trà của Hợp tác xã đến gần hơn với người tiêu dùng và lan tỏa giá trị nông sản Việt.
Trong chương trình, Hợp tác xã mang đến ba dòng sản phẩm chủ lực: Trà tôm nõn thượng hạng, trà móc câu OCOP 4 sao và trà mầm sương sớm OCOP 4 sao. Đặc biệt, sản phẩm trà tôm nõn Hương Quê đã được công nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia – một “tấm hộ chiếu vàng” cho hành trình chinh phục thị trường cao cấp.
Để đạt được chất lượng này, Hợp tác xã đã đầu tư nghiêm túc từ vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Với 6ha do Hợp tác xã trực tiếp quản lý và liên kết thêm 50ha với người dân, mọi khâu đều được kiểm soát chặt chẽ. Phân bón sử dụng là hữu cơ, ủ từ phân trâu kết hợp vi sinh, và quy trình sản xuất được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
Ông Viện chia sẻ: “Hợp tác xã đang vận hành mô hình nông nghiệp tuần hoàn, thu gom phụ phẩm để sản xuất phân hữu cơ, rồi quay lại phục vụ chính vùng chè. Một vòng tròn khép kín, vừa tiết kiệm chi phí, vừa bảo vệ môi trường.” Mỗi năm, đơn vị sản xuất khoảng 100 tấn phân hữu cơ vi sinh, không chỉ dùng cho các vườn chè của mình mà còn cung cấp cho các hộ liên kết.
Tạo Sinh Kế Bền Vững Và Hướng Ra Thế Giới
Hợp tác xã Nông sản Phú Lương không chỉ tập trung vào sản xuất mà còn đồng hành cùng người nông dân. Đơn vị cung cấp kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm và nâng giá thu mua chè tươi từ mức 24.000-28.000 đồng/kg lên 30.000-40.000 đồng/kg, giúp bà con yên tâm gắn bó với nghề. Hiện nay, hợp tác xã tạo việc làm cho khoảng 50 lao động với thu nhập 5-7 triệu đồng/tháng, một con số đáng kể ở vùng núi Thái Nguyên.
Năm 2023, Hợp tác xã tiêu thụ khoảng 40 tấn chè khô, đạt doanh thu 13-15 tỷ đồng. Sản phẩm đã có mặt tại nhiều tỉnh thành phía Bắc như Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên thông qua cả kênh truyền thống và trực tuyến. Đặc biệt, năm 2025, hợp tác xã đã ký kết hợp tác với đối tác thông qua phía Nhật Bản và xúc tiến thị trường Đài Loan (Trung Quốc), những thị trường khó tính đòi hỏi cao về chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Nhờ những nỗ lực không ngừng, giá bán sản phẩm hiện dao động từ 400.000-600.000 đồng/kg, dòng cao cấp lên tới 2 triệu đồng/kg. Trong tương lai, khi vùng chè hữu cơ 1ha hoàn thiện, giá có thể đạt 5-10 triệu, thậm chí 20 triệu đồng/kg.
Chè Không Chỉ Là Thức Uống Mà Là Văn Hóa
Điều đặc biệt ở Phú Lương là cây chè không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn là một phần văn hóa. Sau những ngày lao động, người dân thường cất lên điệu Sấng Cọ, múa tắc xình giữa nương chè, tạo nên một bản giao hưởng của núi rừng. Chính quyền địa phương cũng tích cực hỗ trợ thông qua các chương trình OCOP, xúc tiến thương mại và đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử.
Ông Tống Văn Viện và Hợp tác xã không chỉ bán chè, mà đang kể câu chuyện đẹp về chè thông qua các ngày hội vinh danh làng nghề, tour du lịch nông nghiệp và trải nghiệm hái chè-sao chè-thưởng trà. Trong chiến lược đến năm 2030, xã Hợp Thành đặt mục tiêu trở thành thủ phủ chè chất lượng cao với giá trị sản phẩm đạt 2.000 tỷ đồng mỗi năm.
Từ câu chuyện thành công của trà Hương Quê, lá chè bé bỏng đã chứng minh không còn là “sản vật địa phương” mà đang trở thành biểu tượng của nông nghiệp bền vững, văn hóa bản địa và tư duy kinh tế mới. Hành trình này không chỉ mang lại hương vị thơm ngon, mà còn là minh chứng cho khát vọng đưa nông sản Việt bước ra thế giới bằng chính giá trị thật.



