25 năm vụ tai nạn máy bay nhân đạo ở núi Am: Nỗi đau hóa di sản hòa giải
Hoạt động hợp tác nhân đạo tìm kiếm và kiểm kê quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh tại Việt Nam đã được hai nước triển khai ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết vào năm 1973, trước khi đất nước thống nhất. Trong suốt hành trình dài đó, nhiều kỳ tích đã được tạo nên, nhưng cũng tồn tại một nốt trầm day dứt kéo dài suốt 25 năm, gắn liền với ngọn núi Am hùng vĩ.
Thảm kịch trên hành trình nhân đạo
Vào một buổi chiều đầu tháng 4 năm 2001, chiếc trực thăng Mi-17 do Nga sản xuất đang trên hành trình bay từ Vinh, Nghệ An vào Đồng Hới, Quảng Bình trong điều kiện thời tiết sương mù dày đặc. Bất ngờ, máy bay chao đảo và đâm thẳng vào sườn núi Am thuộc xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Bắc Trạch, tỉnh Quảng Trị), cách thủ đô Hà Nội khoảng 450 km về phía nam.
Trên chuyến bay định mệnh đó có tổng cộng 16 người. Họ gặp nạn trong khi đang thực hiện nhiệm vụ khảo sát cho đợt hoạt động hỗn hợp tìm kiếm hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA) lần thứ 65. Đây là một công việc nhân đạo cao cả được hai Chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ giao phó.
Danh sách những người thiệt mạng trong vụ tai nạn bao gồm:
- Đại tá Trần Văn Biền, Chỉ huy trưởng Cơ quan MIA thuộc Bộ Quốc phòng
- Ông Nguyễn Thanh Hà, Phó giám đốc thường trực Cơ quan Việt Nam tìm kiếm người mất tích (VNOSMP, Bộ Ngoại giao)
- Cơ trưởng, trung tá Nguyễn Văn Hà cùng 6 thành viên phi hành đoàn của Công ty bay dịch vụ miền Bắc (Bộ Quốc phòng)
- 7 thành viên người Mỹ thuộc Lực lượng hỗn hợp kiểm kê tù binh và người mất tích (JPAC, tiền thân của DPAA - Cơ quan tìm kiếm tù binh và quân nhân mất tích Mỹ hiện nay)
Những ký ức không phai mờ
25 năm sau thảm kịch, ông Vũ Khắc Nhũ, nguyên Giám đốc Cơ quan Việt Nam tìm kiếm người mất tích giai đoạn 1997-2002, vẫn nhớ như in từng diễn biến của vụ việc. Ông Nhũ chia sẻ đó là chuyến bay vừa nhằm mục đích khảo sát cho đợt tìm kiếm MIA tiếp theo, vừa để bàn giao công việc giữa hai vị lãnh đạo cũ và mới của Văn phòng MIA tại Hà Nội.
Ngay sau khi sự cố xảy ra, ba bộ gồm Quốc phòng, Công an và Ngoại giao đã lập tức phối hợp với chính quyền địa phương vào cuộc với hàng loạt nhiệm vụ khẩn cấp. Ưu tiên hàng đầu là đưa toàn bộ thi thể về Hà Nội sớm nhất để bảo quản và giám định, bởi tất cả đều đã bị cháy đen. Tiếp theo là giải quyết hiện trường, bao gồm việc thu thập những gì còn sót lại, không loại trừ những mảnh thi thể bị tách rời.
"Khi đó chúng tôi đã gom được ít mảnh thi thể vương vãi và cho chôn luôn dưới chân núi Am này", ông Nhũ xúc động nhớ lại.
Theo ông Nhũ, việc làm rõ nguyên nhân máy bay rơi cũng được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết, vì đây là vấn đề đối ngoại quan trọng, một tổn thất lớn đối với cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ. Về đối nội, đơn vị đã cử các đoàn công tác hỗ trợ gia đình các nạn nhân thực hiện các chính sách liên quan. Nhờ đó, 9 cán bộ, chiến sĩ Việt Nam hy sinh trong vụ tai nạn đã được công nhận liệt sĩ khi đang làm nhiệm vụ nhân đạo quốc tế.
Khu tưởng niệm kiểu Việt Nam giữa rừng keo
Ngày nay, khu vực núi Am đã được chính quyền và người dân địa phương phát triển thành vùng rừng trồng, tạo sinh kế bền vững. Giữa mênh mông gió núi và bạt ngàn cây keo lai, dưới chân núi Am có một khoảng đất trống đặc biệt. Nơi đó là khu tưởng niệm nhỏ được xây dựng theo phong cách kiến trúc Việt Nam, với tấm bia đá khắc tên cả người Việt và người Mỹ đã hy sinh.
Bà Nguyễn Thị Hòa, 59 tuổi, trú tại xã Bắc Trạch, cho biết khu tưởng niệm được đặt trong khu rừng keo lai do gia đình bà sở hữu. Ban đầu chỉ có một tấm bia tưởng niệm đơn sơ, sau đó các cơ quan hữu quan đã xây dựng thành khu tưởng niệm hoàn chỉnh hơn với bia đá, hàng rào và bậc thang bao quanh.
"Cứ vào dịp 7/4 hằng năm, mọi người lại về đây làm lễ tưởng niệm cho những người đã mất trong vụ tai nạn máy bay", bà Hòa chia sẻ. "Thi thoảng cũng có người vào thăm viếng thắp hương, có cả người nước ngoài lẫn người Việt. Gia đình tôi cứ đến ngày rằm và mùng một hằng tháng vẫn đều đặn lên dọn dẹp vệ sinh, thắp hương tưởng nhớ. Họ là người dưng nhưng có 'duyên' với mảnh đất của mình, nên tôi cũng hương khói theo đúng tâm linh người Việt".
Lễ tưởng niệm tròn 25 năm: Sự hội tụ của tình người
Ngày 7/4 vừa qua, dưới cái nắng đổ lửa của Quảng Trị, mặt trời như thiêu đốt cả ngọn núi Am. Một đoàn xe hướng về khu tưởng niệm, mang theo hơn 100 người Việt Nam và Hoa Kỳ tề tựu về đây để dự lễ tưởng niệm tròn một phần tư thế kỷ kể từ ngày xảy ra tai nạn.
Ông Lê Công Tiến, Giám đốc Cơ quan Việt Nam tìm kiếm người mất tích, đã gửi lời chia buồn và tri ân sâu sắc tới gia đình các nạn nhân. Ông khẳng định sự hy sinh của 16 cán bộ, quân nhân Việt Nam và Hoa Kỳ đã góp phần quan trọng vào quá trình hợp tác giữa hai nước về MIA trong suốt 50 năm qua. Sự hy sinh ấy giúp xoa dịu nỗi đau chiến tranh, thúc đẩy tiến trình hàn gắn, hòa giải, hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh, và góp phần đưa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đạt tầm mức như ngày hôm nay.
"Trên cao xanh, cha tôi sẽ mỉm cười"
Ông Trần Thanh Hưng, con trai đại tá liệt sĩ Trần Văn Biền, không khỏi giật mình khi nhận ra thời gian trôi qua quá nhanh, bản thân ông cũng đã bước qua tuổi 62. "Ở cái tuổi đi qua gần hết thăng trầm cuộc đời, nỗi đau mất người thân sau 25 năm dù đã nguôi ngoai theo thời gian, nhưng niềm tự hào về sứ mệnh nhân đạo mà cha tôi cùng các thành viên tiền trạm Việt Nam và Mỹ thì vẫn luôn vẹn nguyên và tỏa sáng", ông Hưng bày tỏ.
Trong giờ phút tưởng niệm trang nghiêm, ông Hưng chia sẻ sự đồng cảm sâu sắc trước nỗi đau và mất mát của các gia đình có mặt, cũng như của những người bạn đến từ Hoa Kỳ. Dù khác biệt về ngôn ngữ và quốc tịch, họ đã trở thành một "gia đình MIA", gắn kết bởi sự hy sinh của những người thân yêu.
"Cha tôi cùng các đồng nghiệp người Mỹ đã kề vai sát cánh, cùng thực hiện một nhiệm vụ và cùng ngã xuống vì mục tiêu chung: mang lại niềm an ủi cho những gia đình vẫn đang mòn mỏi chờ tin người thân mất tích. Chính lý tưởng ấy đã làm cho sự hy sinh của họ trở nên bất tử", ông Hưng nhấn mạnh.
Ông Hưng tin rằng cha ông hẳn sẽ an lòng nơi cõi vĩnh hằng khi biết về mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ngày nay. "Chúng tôi, những thế hệ đi sau, nguyện sẽ luôn gìn giữ và phát huy di sản nhân đạo này, để nỗi đau chiến tranh lùi xa và tình hữu nghị của chúng ta ngày càng bền chặt", ông khẳng định.



